Về vấn đề vừa tắt thở nên niệm Phật 4 chữ hay 6 chữ, niệm nhanh hay chậm, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải tường tận qua các bộ chánh văn (Sách Vấn Đáp trang 28, 43; Sách Trắc Nghiệm trang 29, 67; Giảng Ký Quyển 2 Tọa Đàm 68, 69; Giảng Ký Quyển 4 Tọa Đàm 177, 178; Khuyên Người Niệm Phật Tập 2, Tập 3; Hành Trang Căn Bản Cho Người Hộ Niệm trang 13).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong tác phẩm Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (trang 28 – 30), khi giải đáp thắc mắc về việc niệm nhanh hay niệm chậm, Thầy Diệu Âm chỉ dạy rõ ràng về tốc độ trung đạo và cách nương theo từng hơi thở của người bệnh:
"Khi hộ niệm cho người bệnh chúng ta nên niệm theo tốc độ của người bệnh là tốt nhất, nghĩa là người bệnh niệm chậm ta niệm chậm, người bệnh niệm nhanh ta niệm nhanh. Nếu người bệnh không có quyết định gì cả thì ta nên niệm theo "Trung đạo", nghĩa là không nhanh không chậm (cỡ chừng 3 giây 2 niệm là được), không cao quá cũng không trầm quá."
"Khi người bệnh đang hấp hối, đang lâm chung, nên niệm rõ ràng từng tiếng, niệm chậm theo hơi thở, và niệm mạnh tiếng để họ cố gắng niệm theo. Lúc đang hấp hối mà người Hộ Niệm niệm nhanh quá thì người ra đi có thể nghe theo không kịp. Có thể, lúc người bệnh hắt hơi ra (tức là sắp tắt hơi), cứ một hơi thở một câu "Nam Mô A Di Đà Phật" hoặc "A Di Đà Phật". Hoặc có người niệm như vầy, thấy người bệnh hắt ra một hơi thì niệm "A...", hắt lần nữa thì niệm "DI...", rồi "ĐÀ...", rồi "PHẬT...". Mỗi cái hắt hơi mỗi tiếng. Nói chung lúc hấp hối đều phải niệm chậm để nương cho người bệnh cố hết sức niệm theo mới tốt."
Thời khắc người bệnh vừa trút hơi thở cuối cùng, ban hộ niệm bắt đầu tăng cường độ và nhịp độ niệm Phật trong hai tiếng đồng hồ đầu tiên:
"Khi tắt hơi thì người Hộ Niệm bắt đầu niệm mạnh, nhanh hơn, đông người hơn một chút rất tốt. Niệm khoảng hai tiếng đồng hồ nên thay ca khác. Mỗi lần thay nên nhớ hồi hướng công đức cho họ. Khi thay ca, thì ca khác sẽ niệm, niệm chậm hay nhanh sau đó đều được, nghĩa là trở lại bình thường, tùy theo sức niệm chung. Chú ý nên niệm đều và thành tâm là được."
"Ngay lúc tắt hơi nên khai thị nhắc nhở liền, ngắn gọn như: "Bác, Cụ, Anh... đã phải bỏ báo thân rồi, mau mau nhiếp tâm niệm A Di Đà Phật cầu Phật A Di Đà tiếp dẫn Vãng Sanh Tây Phương Cực Lạc". Rồi tiếp tục niệm Phật mạnh lên."
Cũng trong Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (trang 43 – 47), Thầy giải thích rõ lý do vì sao câu Phật hiệu 4 chữ lại mang lại lợi ích thù thắng cho người sắp lâm chung và người vừa tắt hơi:
"Niệm sáu chữ "Nam mô A Di Đà Phật" mà Phật còn sợ dài, còn sợ cho người sắp chết khó niệm được, nên chư Phật, cũng như chư Tổ khuyên hãy niệm 4 chữ "A Di Đà Phật". Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật cũng dạy 4 chữ "A Di Đà Phật". Ngắn gọn để dễ Vãng Sanh hơn. Tại sao chúng sanh không chịu vâng lời Phật dạy!?..."
"Tóm lại, trong suốt thời gian từ sau khi tắt hơi cho đến 8 giờ, 12 giờ, 16 giờ... Tốt nhất là hãy cùng nhau niệm câu Phật hiệu, niệm cho đến khi nhà quàng đem xác đi mới tốt. Tất cả kinh điển gì khác có thể tụng sau đó cũng được, chưa phải muộn. Nên nhớ, trong lúc lâm chung rất cần sự khai thị hướng dẫn, cần ngắn gọn, rõ ràng, chủ đích là khuyên buông xả tất cả để niệm Phật cầu Phật phóng quang tiếp độ Vãng Sanh Cực Lạc. Đang vừa tắt hơi thì khai thị ngay để người đó kịp thời tỉnh ngộ mà niệm Phật. Trong khoảng một vài giờ đầu sau khi tắt hơi rất cần tiếp tục nhắc nhở, khai thị, hướng dẫn thần thức niệm Phật cầu Vãng Sanh."
Trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2) (Lá Thư Số 27, trang 31), khi hướng dẫn con cháu trợ niệm cho người thân lớn tuổi đang đau yếu, Thầy dặn dò:
"Niệm Phật cũng phải rõ ràng từng chữ, không được kéo nhựa, không được lờ mờ. Niệm đều đều để cho Nội niệm theo. Nên theo dõi thử Nội cháu thích niệm nhanh hay chậm, thích niệm bốn tiếng hay sáu tiếng, nên niệm bốn tiếng dễ hơn và mạnh hơn. Nguyện nhiều lần để nhắc nhở tâm mình xác định hướng đi rõ rệt."
Đặc biệt, trong phần Phụ Lục của Khuyên Người Niệm Phật (Tập 3) (trang 208), những chỉ dẫn hộ niệm quan trọng cùng lời dạy của tiền nhân đã nêu bật cách xử lý khi gặp tình huống nguy cấp:
"Trường hợp người bệnh chưa tới lúc nguy cấp, có thể khởi đầu bằng câu "Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật". Nếu lúc nguy cấp thì bắt đầu ngay từ sáu chữ. Trường hợp thấy nguy cấp hơn nữa thì trực tiếp niệm bốn chữ là được. Một câu A Di Đà Phật bao gồm đủ cả ba thừa. Điều quan trọng là ở chỗ khởi dậy được câu danh hiệu Phật ở nơi người bệnh, công đức ấy thực vô lượng."
"Người trợ niệm khi vừa tới nhà bệnh nhân, thấy họ đã đến lúc khẩn trương hay nguy cấp thì miễn nghi thức thiết kế bàn Phật, có thể trực tiếp đến trước bệnh nhân đánh khánh niệm 4 chữ Phật hiệu "A Di Đà Phật"."
"Pháp ngữ của Sư Thị Huê Quyền trong lúc lâm bệnh (Dân quốc Đài Loan năm 21). Đời người ở thế gian đều không tránh khỏi cái khổ của bệnh dịch và chết. Khi những thứ khổ đó xuất hiện, duy chỉ có buông xả vạn duyên, nhất tâm niệm "Nam Mô A Di Đà Phật". Nếu thấy bị quá mệt, gần tắt thở, thì chỉ niệm bốn chữ "A Di Đà Phật", nhất tâm cầu Phật từ bi tiếp dẫn quí vị vãng sanh Tây Phương."
Trong tập sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm), tại Câu 32 (trang 29), Thầy đã xác định rõ phương pháp niệm đúng đắn qua câu hỏi tổng quát:
Cách niệm Phật trong buổi hộ niệm:
"b) Niệm “A Di Đà Phật” hoặc “Nam Mô A Di Đà Phật” ra tiếng để người bệnh nghe và niệm theo. [✓ Đúng]"
"c) Nên niệm Phật theo cách mà người bệnh ưa thích hay thường niệm để họ dễ được cảm ứng. [✓ Đúng]"
"d) Nếu người bệnh không đòi hỏi cách niệm nào đặc biệt, thì nên niệm 4 chữ “A Di Đà Phật” theo trung đạo, nghĩa là không quá nhanh hoặc quá chậm. [✓ Đúng]"
"e) Cần niệm rõ ràng, mọi người phải hòa với nhau, không được người nhanh kẻ chậm. [✓ Đúng]"
"f) Người có âm giọng quá đục hoặc quá sắc (the thé) cần được nhắc nhở nên niệm nhỏ và ngồi xa để tránh gây xáo trộn người bệnh. [✓ Đúng]"
Tiếp đó, tại Câu 4 thuộc Chương 3 của tập trắc nghiệm này (trang 67 – 72), Thầy đã làm sáng tỏ nhận thức căn bản giữa việc niệm 4 chữ và 6 chữ:
Nhận thức về pháp hộ niệm vãng sanh:
"vv) Niệm “A Di Đà Phật” hoặc “Nam Mô A Di Đà Phật” đều được, tùy theo ý muốn của người bệnh. [✓ Đúng]"
"ww) Niệm 4 chữ “A Di Đà Phật” thì mạnh hơn, dễ hơn cho người lâm chung vì lúc này họ rất yếu, nhiều người không niệm nổi 6 chữ. [✓ Đúng]"
"xx) Niệm 4 chữ “A Di Đà Phật” nặng về Lý Tự Tánh, không còn “Năng Sở”, (nghĩa là không phân biệt người niệm và Phật được niệm) nên dễ được cảm ứng đạo giao. [✓ Đúng]"
"yy) Niệm 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” nặng về Sự Cung Kính, còn có “Năng Sở”. Nhưng vẫn niệm được, tùy theo sở thích của người bệnh. [✓ Đúng]"
"zz) Có thể niệm: “Mô Phật”, “Nam Mô Phật”... cho gọn khi hộ niệm. [✗ Sai]"
"aaa) Có thể dùng câu: “Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật” để hộ niệm. [✗ Sai]"
Trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2) (Lá Thư Số 37, trang 116 – 128), Thầy phân tích sâu sắc hơn về hai tôn chỉ Lý và Sự của câu Phật hiệu:
"Niệm Phật sáu chữ hay bốn chữ? Niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc niệm bốn chữ “A Di Đà Phật” đều được. Niệm sáu chữ nặng về sự “cung kính, quy mạng”, niệm bốn chữ thiên về lý “Tự Tánh Di Đà”. Niệm sáu chữ nặng về lòng thành kính ngưỡng nguyện đức A Di Đà phóng quang nhiếp thọ, niệm bốn chữ ngoài sự cầu Phật gia trì còn thêm phần nhiếp tâm vào “Tự Tánh Di Đà” của mình để nội ngoại tương hợp dễ cảm ứng đạo giao. Hộ niệm bốn chữ còn có cái lợi thế là nhiều người dễ niệm đều và người lâm chung dễ nhớ hơn. Tuy nhiên cũng nên tùy theo ý muốn và thói quen của người lâm chung, riêng Tịnh Tông Học Hội trên thế giới thì Ngài Tịnh Không chủ trương niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”, hằng ngày tất cả tứ chúng đồng tu khắp nơi đều niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”."
"Để hiểu thêm về công năng của sáu chữ và bốn chữ, trong thời nhà Minh bên Trung Hoa có người hỏi Ngài Liên Trì Đại Sư, vị Tổ Sư thứ 8 của Tịnh Độ Tông, Ngài nói Ngài dạy người khác niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”, còn riêng Ngài thì niệm bốn chữ “A Di đà Phật”. Lại hỏi, tại sao vậy? Ngài nói, người ta thì ưa khách sáo còn Ngài thì không! Đây chính là nói lên hai lý: một là sự “cung kính, quy mạng...” có “năng” có “sở”; hai là lý “Tự tánh Di Đà, Duy tâm Tịnh Độ” không còn có “năng” có “sở” nữa."
"(Lý đạo này cao lắm, có dịp sẽ nói rõ hơn). Nhưng dài hay ngắn gì cũng nên chọn lựa hoặc là bốn chữ hoặc là sáu chữ, chứ không nên dài hơn hoặc ngắn hơn. Ví dụ, một vài nơi người ta thích niệm Phật rất dài hoặc ngược lại niệm rất ngắn. Niệm dài hơn như niệm, “Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật”."
"lời niệm này quá dài, 20 chữ, người bình thường đôi khi cũng quên, thì một người đang lâm chung không đủ sức để niệm và cũng không thể nhớ để niệm, cho nên không nên áp dụng để hộ niệm hoặc công phu hằng ngày."
"Ngược lại, có nơi chỉ niệm “Nam Mô Phật” hoặc đơn giản hơn chỉ vỏn vẹn “Mô Phật” mà thôi. Niệm “Nam Mô Phật” nghĩa là kính lễ tất cả chư Phật, niệm chung tất cả chư Phật trên mười phương thế giới, chứ không nhiếp tâm vào vị Phật nào. Khi hộ niệm hoặc thường ngày niệm như vậy thì chính ta sau cùng không biết quốc độ nào để vãng sanh. Danh hiệu A Di Đà Phật là danh hiệu niệm chung của chư Phật mười phương, vì tất cả chư Phật đều niệm A Di Đà Phật, nhưng A Di Đà Phật còn là danh hiệu của vị Chánh báo Tây Phương Cực Lạc. Cho nên niệm “Nam Mô Phật” là niệm chung chư Phật không có hướng về nhất định, nghĩa là có tất cả mà không có một. Còn niệm A Di Đà Phật là vừa niệm tất cả chư Phật, vừa niệm một Phật, cho nên xác định rõ rệt nơi chốn vãng sanh."
Trong bộ Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), tại Tọa Đàm 068 (trang 197 – 206), Thầy giảng giải cặn kẽ từng chi tiết thực tế của buổi hộ niệm:
"Người hộ niệm đến trước người bệnh niệm ra tiếng. Có hai cách niệm: Một là niệm 4 chữ “A Di Đà Phật”; Hai là niệm 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”. Hai cách đều có tác dụng tốt. Ngài Tịnh Không thì khuyên nên niệm 4 chữ “A Di Đà Phật” là tốt nhất, và Ngài nói đây là cách niệm chuẩn. Tuy nhiên có nhiều người suốt đời đã niệm 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” đến nhập tâm rồi, thì người hộ niệm cũng nên niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” để người bệnh được dễ dàng nhiếp tâm mà vãng sanh. Ngoài 4 chữ và 6 chữ, xin đừng niệm những cách khác."
"Cũng có người khi nghe Hòa Thượng Tịnh Không dạy rằng, niệm 4 chữ là tốt nhất, là chuẩn nhất, thì liền áp dụng một cách cứng rắn, dù cho người bệnh đã quen với cách niệm 6 chữ, chỉ nhiếp tâm được với 6 chữ, và đã yêu cầu ban hộ niệm niệm 6 chữ. Làm vậy cũng gây khó khăn, tạo phiền não cho họ. Nói chung, niệm được 4 chữ thì quá tốt, tuy nhiên còn tùy theo người bệnh mà chúng ta uyển chuyển giữa hai cách 4 chữ và 6 chữ."
"Gặp trường hợp này, người hộ niệm nên niệm 4 chữ “A.. Di.. Đà.. Phật”, rõ ràng, minh bạch, sẽ có tác dụng tốt nhất. Đến lúc lâm chung niệm 4 chữ “A.. Di.. Đà.. Phật” sẽ vững vàng hơn. Nhiều người đến giai đoạn lâm chung, mệt quá, nhiều khi 4 chữ “A Di Đà Phật” mà niệm không nổi, đừng nói chi đến 6 chữ. Nhiều người quen niệm 6 chữ, đến lúc sắp ra đi, 6 chữ hồng danh phải chia làm 3 đoạn để niệm: “Nam Mô.... (thở hề... hề... hề...), A Di... (thở hề... hề... hề...)... ”, rồi quên mất tiếng “Đà Phật…”!... Vì thế, niệm được 4 chữ rất tốt, ngắn gọn, dễ niệm, dễ nhiếp tâm, cảm ứng mạnh."
"Tổng quát, 4 chữ “A Di Đà Phật” thật sự là để đi thẳng vào Tự Tánh của mình đấy, còn 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” là có năng có sở, có người có ta. Chư Tổ nói, người nào không còn lễ mễ nữa, không còn năng sở nữa, thì hãy niệm “A Di Đà Phật” để nhập thẳng vào Tự Tánh Di Đà. Còn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” là vẫn còn cách một khoảng xa, nghĩa là vẫn còn là: “Con đứng ở đây, xin niệm Ngài ở kia”. Còn khi chúng ta niệm “A Di Đà Phật” thì nên biết rằng Chân Tâm Tự Tánh của ta cũng là A Di Đà Phật."
Sang Tọa Đàm 069 (trang 207 – 216), Thầy tiếp tục giảng rõ về ý nghĩa tôn kính và sức mạnh tâm lực khi xả bỏ báo thân:
"Xin chư vị mở trang 29, chúng ta tiếp tục câu 32(d): Nếu người bệnh không đòi hỏi cách niệm nào đặc biệt, thì nên niệm 4 chữ “A Di Đà Phật” theo trung đạo, nghĩa là không quá nhanh hoặc quá chậm. Niệm “A Di Đà Phật” là cách niệm chuẩn, rất tốt trong Pháp Hộ Niệm. Có người cho rằng niệm “A Di Đà Phật” là không được tôn kính. Xin thưa, nếu người nào thường niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” quen rồi, thì chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” để hộ niệm cho họ cũng được. Còn người nào quen niệm 4 chữ “A Di Đà Phật” thì không phải là mất sự tôn kính, mà đây chính là niệm thẳng danh hiệu của Đức Phật A Di Đà, theo đúng như trong kinh Vô Lượng Thọ dạy. Chư vị nên nhớ cho, chữ “Nam Mô” không phải là danh hiệu của Đức Phật, mà chỉ là tiếng xưng hô chung, gọi là đảnh lễ, tôn kính, quy mạng... Nói chung Chữ “Nam Mô” là tiếng tán thán chứ không phải là danh hiệu."
"Theo như Tổ Liên Trì, các vị Phật Tử Đồng Tu hỏi Ngài nên niệm như thế nào? Ngài dạy: - Niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Rồi có người hỏi lại, còn Ngài niệm như thế nào? Ngài trả lời: - A Di Đà Phật. - Tại sao vậy? - Tại vì chư vị thích lễ mễ quá, còn ta thì không lễ mễ nữa. Ta niệm thẳng Chơn Tâm để vãng sanh thành Phật luôn, chứ không muốn lưu lại trong sáu đường luân hồi nữa."
"Người bệnh quá mệt, nhiều khi niệm 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” không nổi. Những người quen niệm 6 chữ đến giai đoạn bệnh nặng ở cuối đời, nhiều khi họ cố gắng niệm mà niệm không trọn, chỉ có 6 chữ mà phải chia thành 2-3 đoạn để niệm, nhưng nhiều lúc cũng phải quên lên quên xuống. Như vậy, niệm đủ 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” thực sự có lúc gây khó khăn cho người bệnh. Niệm khó khăn thì cũng khó nhiếp tâm hơn vậy."
"Chính vì thế mà nhiều vị Tổ trong Tịnh Độ Tông khuyên nên niệm 4 chữ để giúp cho người bệnh trong lúc mệt mỏi nhất có thể cố gắng vùng lên niệm một lần trọn đủ câu Phật hiệu. Niệm được trọn vẹn một câu “A Di Đà Phật” thì sức niệm bùng lên, tâm lực theo đó mà vươn lên, ý niệm vãng sanh mạnh lên mà cảm ứng Phật lực gia trì, giúp người bệnh niệm thành những chuỗi câu Phật hiệu liên tục, nhờ vậy mà dễ nhiếp tâm hơn, dễ thành tựu hơn."
Trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 4), tại Tọa Đàm 177 (trang 160 – 165), Thầy nhắc nhở ban hộ niệm không được máy móc, ép buộc người sắp ra đi:
"Ngài Tịnh Không cũng chủ trương niệm 4 chữ “A Di Đà Phật”. Ngài nói, niệm 4 chữ là cách niệm chuẩn, mạnh hơn, vững hơn, còn niệm 6 chữ thì yếu hơn, chưa dứt khoát muốn vãng sanh. Như vậy giữa hai cách niệm có khác nhau là mạnh hơn hay yếu hơn, chứ không phải là đúng hay sai."
"Hòa Thượng Tịnh Không khuyên nên niệm 4 chữ tốt hơn. Nhiều người nghe vậy ứng dụng lời khuyên này có phần máy móc, nghĩa là bắt buộc người bệnh phải niệm 4 chữ. Đây là điều cứng rắn không cần thiết, có tính cưỡng bức thái quá! Nhiều người suốt đời thường niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, họ công phu như vậy đã thành thói quen rồi, đã nhiếp tâm vào đó rồi, mà giờ đây bắt buộc họ phải bỏ chữ Nam Mô, nhiều khi họ không đành lòng bỏ, hoặc bỏ không được. Trong những trường hợp cấp bách, nên nương theo cách niệm của người bệnh là tốt, chứ không còn thời gian giải thích nữa đâu."
Tại Tọa Đàm 178 (trang 165 – 170), Thầy dẫn chứng gương hạnh của chư vị Tổ Sư và nghiêm cấm việc tự ý niệm tắt hay niệm biến âm:
"Ngài Ấn Quang Đại Sư thường niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, Ngài Tịnh Không thì thường niệm “A Di Đà Phật”, Ngài Ngẫu Ích Đại Sư thì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, Ngài Liên Trì Đại Sư thì niệm “A Di Đà Phật”… Rõ ràng ta thấy các vị Tổ Sư, Cao Tăng có vị niệm 4 chữ, có vị niệm 6 chữ. Nghĩa là hai cách niệm đều đúng, chỉ tùy theo sự nhiếp tâm riêng của mỗi người mà ứng dụng lấy thôi."
"Còn có nơi người ta niệm “Mô Chi Phật”, “Mô Phật”. Cách niệm này chư Tổ Sư trong Tịnh Độ Tông không cho phép. Ngài Tịnh Không rất cứng rắn nghiêm cấm cách niệm này. Ngài khuyên niệm 4 chữ “A Di Đà Phật”, là cách niệm chuẩn, mạnh nhất. Chúng ta nên niệm “A Di Đà Phật” là tốt nhất."
Trong tác phẩm Khuyên Người Niệm Phật (Tập 3) (Lá Thư Số 58, trang 122 – 136), Thầy chỉ dạy về việc giữ nhịp và phương tiện trợ niệm:
"Pháp khí: nên dùng khánh để giữ nhịp chung, niệm cho đều, tránh niệm lộn xộn. Nếu không có khánh thì có thể dùng loại mõ lớn để có tiếng trầm hùng, tránh âm thanh sắc bén hay đục. Nếu bệnh nhân chưa từng quen với pháp cụ thì không nên gõ mõ hay đánh khánh. Nếu bệnh nhân thường niệm theo máy niệm Phật thì niệm theo máy rất tốt. Có thể niệm bốn chữ hay sáu chữ. Nói chung, cách niệm tốt nhứt là nên tùy theo thói quen của bệnh nhân, không nên đặt nặng vấn đề có pháp khí hay không."
Điều này cũng được quy định thành nguyên tắc kỷ luật trong Hành Trang Căn Bản Cho Người Hộ Niệm (trang 13 – 14) đối với từng thành viên tham gia hộ niệm:
"13. Niệm Phật có thể là 6 chữ (Nam Mô A Di Đà Phật) hoặc 4 chữ (A Di Đà Phật) tùy thuận theo người bệnh. Âm giọng niệm Phật phải rõ ràng, hòa nhịp với nhau. Mỗi thành viên phải tự kiểm lấy âm giọng của mình, không được tự ý niệm nhanh hơn hoặc chậm hơn. Những người có âm giọng quá sắc hoặc quá trầm phải tự kiềm chế âm lượng, nên ngồi xa, niệm nhỏ tiếng, hoặc tuân theo sự hướng dẫn của Hộ Thất hoặc người điều hành."
"14. Có thể dùng khánh để giữ nhịp khi niệm Phật (nếu bệnh nhân hoan hỷ). Không được dùng các pháp khí khác như: mõ, chuông, tang, khơ, địa chung."
Kết thúc buổi hộ niệm và trong suốt các giờ phút then chốt, Thầy Diệu Âm luôn dặn dò tha thiết việc giữ gìn tâm niệm thanh tịnh, chánh tín hướng về cõi Tây Phương:
"Tóm lại, về niệm Phật chúng ta có thể niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc “A Di Đà Phật” một cách chí thành chí kính là tốt. Không nên niệm ngắn hơn hoặc dài hơn, để đường vãng sanh được vững vàng vậy."
"Hộ Niệm Vấn Đáp 08: Niệm nhanh hay chậm?"
"Hộ Niệm Vấn Đáp 13: Hộ Niệm có cần tụng kinh, đọc chú?"
"Câu 32 (Trang 29)"
"Câu 4 (Trang 67 – 72)"
"Tọa Đàm 068: Cách Niệm Phật Trong Buổi Hộ Niệm Như Thế Nào? (Câu 32a, 32b, 32c, 32d)"
"Tọa Đàm 069: Cách Niệm Phật Trong Buổi Hộ Niệm Như Thế Nào? (Tiếp Theo Câu 32d, 32e, 32f)"
"Tọa Đàm 177: Niệm Bốn Chữ Hay Sáu Chữ, Dứt Bặt Năng Sở & Khôi Phục Tự Tánh Di Đà (Câu 4uu – 4xx)"
"Tọa Đàm 178: Cấm Niệm Tắt Mô Phật, Pháp Niệm Tối Ưu & Giải Mã Nghi Vấn Ma Nhập (Câu 4yy – 4bbb)"
"Lá Thư Số 27: An Lạc và Hiếu Nghĩa!"
"Lá Thư Số 37: Tổng quát về sự Hộ Niệm!"
"Lá Thư Số 58: Ban Hộ Niệm!"
"Phần Phụ Lục Cần Thiết: Những Khai Thị Quan Trọng Liên Quan Đến Sự Hộ Niệm"
"Nội Quy Cho Thành Viên Ban Hộ Niệm (15 Điều)"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →