Về vấn đề những việc gia đình nên làm và điều tuyệt đối cấm kỵ trong 49 ngày sau khi người thân qua đời, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Khuyên Người Niệm Phật Tập 2 Lá Thư 44, Sách Trắc Nghiệm Chương 4 Câu 22, Hành Trang Căn Bản Điều 9 và Bảng Kiểm Chánh Kiến, Sách Vấn Đáp Mục Cúng Giỗ Người Vãng Sanh, Khuyên Người Niệm Phật Tập 3 Phụ Lục Lá Thư 64 và Tập 4 Lá Thư 71).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2), Lá Thư Số 44 (trang 187), Thầy Diệu Âm giải thích rõ trạng thái thần thức trong giai đoạn 49 ngày và lý do vì sao người xưa thường lập đàn cầu siêu trong bảy tuần thất:
"Thời gian cho thân trung ấm sinh hoạt thường là 49 ngày. Cũng có những trường hợp đặc biệt nhanh hơn hoặc chậm hơn. Trong 49 ngày, cứ chu kỳ bảy ngày thì thân trung ấm lại bị hành đến bất tỉnh một lần, giống như một lần “chết” nữa vậy, cho đến bảy lần thì được xác định vị trí, (cho nên khi chết người ta thường cúng cầu siêu bảy tuần là vì lý do này). Trong suốt thời gian trung ấm, thần thức bị trải qua rất nhiều những cảnh giới hãi hùng, ghê sợ, tất cả đều do vọng tưởng của chính họ tạo nên. Người biết tu hành, tâm hồn thanh tịnh, thần trí họ định cho nên họ có thể phân biệt được thực giả và tự chọn lấy cảnh giới tốt để đi."
Thầy miêu tả nỗi kinh hoàng của những hương linh khi còn sống không biết tu hành, bị gió nghiệp cuốn xoay vô cùng đau đớn:
"Người không tu, tạo nghiệp nhiều thì thần thức bị dồn vào từ trạng huống khủng bố này đến khủng bố khác, đến sau cùng tất cả đều bị mê mệt, đành lặng lẽ trôi theo nghiệp lực để trả nghiệp. Có nhiều trường hợp vì mê muội hoặc quá sợ hãi cho nên thần thức mới xông vào những chỗ vô cùng nguy hiểm để nấp mà họ không hay, hoặc là tiếp tục chạy trốn những ảo giác để sau cùng đuối sức bị quay cuồng như chiếc lá trong những cơn lốc của nghiệp lực (gọi là nghiệp phong/ gió nghiệp), để thọ nghiệp (gọi là nghiệp cảm). Đâu ngờ tất cả những hình ảnh hãi hùng chỉ là sự chiêu cảm từ những việc làm ác hoặc do lòng tham luyến hão huyền khi còn sống tạo nên mà thôi."
Để giúp người thân giảm bớt thống khổ và nương nhờ công đức siêu thăng, trong sách Hành Trang Căn Bản Cho Người Hộ Niệm, Điều 9 (trang 11), Thầy nhấn mạnh những điều gia quyến cần thực hiện:
"9- Gia đình phải kiêng cữ sát sanh hại vật, dù là những loài vật nhỏ như ruồi, muỗi, kiến, gián, v.v... kể từ khi bắt đầu hộ niệm cho đến hết 49 ngày sau khi người bệnh ra đi. Khuyến khích phóng sanh, làm việc công đức để hồi hướng cho người ra đi. Khuyến khích gia đình ăn chay. Phải kiêng cữ ăn loại ngũ tân: tỏi, hành, hẹ, kiệu, hành tây… trong suốt thời gian hộ niệm. Nấu nướng cần gọn nhẹ, tránh mùi thức ăn xông lên tới chỗ đang hộ niệm."
Tiếp đó, trong Bảng Kiểm Chánh Kiến Hộ Niệm (trang 21), Thầy xác định rõ những việc thiện lành cần làm trong suốt bảy tuần lễ:
"03- Nên trai chay 49 ngày, tuyệt đối không sát sanh hại vật: - [✓ Đúng]."
"04- Nên phóng sanh, làm việc thiện để hồi hướng cho hương linh: - [✓ Đúng]."
"05- Cần cầu siêu trong 7 tuần không? - (Có)."
"06- Cần thỉnh chư Tăng Ni cầu siêu 49 ngày: - (Tốt)."
"07- Cúng dường trai tăng, in kinh, bố thí… hồi hướng công đức cho hương linh: - (Tốt)."
"08- Hàng ngày nên niệm Phật hồi hướng công đức cho hương linh: - (Tốt)."
"09- Khi hồi hướng công đức nên khai thị khuyên hương linh niệm Phật cầu vãng sanh: - (Tốt)."
Đồng thời, trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 3), Phụ Lục Lá Thư 64 (trang 213), Thầy dặn dò việc tang lễ và tu dưỡng của người nhà:
"7. Mọi sự tang tế phải y theo nghi thức của Phật giáo, lấy việc hộ niệm làm chính, không nên khoa trương rầm rộ phung phí, cần phải tiết kiệm."
"8. Trong vòng 49 ngày sau khi chết, toàn thể gia đình nên ăn chay và niệm Phật, hoặc tự mình niệm hoặc theo tiếng niệm Phật trong băng, hoặc theo tiếng máy niệm Phật mà niệm theo và hồi hướng cho ... được vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Có như vậy ... mới được thực sự hưởng được niềm vui an lạc chân chính, các con các cháu nhờ đó cũng hưởng được sự may mắn kiết tường, tương lai tươi sáng."
"Hy vọng cả nhà từ đây về sau phát tâm tin Phật, niệm Phật, thì các con các cháu nhất định sẽ được mọi sự bình an và hạnh phúc. Mong các con, các cháu tuân theo và làm đúng như lời ước nguyện của ... ."
Trong sách Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, mục Cúng giỗ người Vãng Sanh (trang 311), Thầy giải thích việc cầu siêu và làm việc phước lành xuất phát từ lòng thành hiếu kính:
"Cầu siêu 49 ngày, 100 ngày, phóng sanh, làm các việc lành hồi hướng cho người ra đi, đây là sự tự nguyện của người còn sống. Việc làm này thể hiện lòng hiếu nghĩa của con cháu đối với ông bà cha mẹ đã ra đi, thể hiện tâm thương kính trước sau như một. Con cháu có nghĩa, có hiếu thì nên thành tâm làm. Nếu quên tình quên nghĩa thì có luật lệ nào phạt tội mình? Tất cả đều do tâm của con cháu có thành kính hay không."
Đối với người thân chưa vãng sanh, Thầy khuyên con cháu phải chí thành chí kính cầu siêu cứu vớt:
"Nếu người thân bị chết, (nghĩa là không được Vãng Sanh Cực Lạc), Chắc chắn họ bị kẹt trong sáu nẻo luân hồi. Tệ hơn nữa, hầu hết bị lạc trong ba đường đọa lạc. Con cháu hãy thường tưởng người thân mà thành tâm cầu siêu cho họ. Đây là điều phải làm, rất cần. Hãy chí thành chí kính mà làm, đừng nên hỏi đi hỏi lại rằng có linh không? Có thiêng không? Có ích gì không?... Dù kết quả có được viên mãn hay không thì chúng ta cũng không nên bỏ qua. Vì đây là tâm hiếu kính."
Ngay cả khi người thân đã có thoại tướng vãng sanh, Thầy chỉ dạy con cháu vẫn nên làm tròn bổn phận:
"Nếu người thân được Vãng Sanh, thì ta cũng vì tâm hiếu kính mà làm cho trọn phận làm con cháu, đừng nên ngại ngùng. Tất cả những nghi tiết về tụng kinh Niệm Phật để cầu siêu, Các việc thiện lành, phóng sanh, v.v... chúng ta cũng nên làm và cố gắng làm với lòng chí thành chí kính để hồi hướng công đức cho họ. Sau đó, nhân ngày giỗ kỵ ta vẫn nên tổ chức Niệm Phật, tụng kinh, trai chay thanh tịnh để hồi hướng công đức và tưởng niệm người đã Vãng Sanh. Việc làm này rất tốt, rất có lợi."
Thầy phân tích rõ bốn lý do sâu xa vì sao con cháu cần làm việc phước thiện hồi hướng:
"- Một là vì lòng kính thương, hiếu nghĩa. “Hiếu dưỡng phụ mẫu” là điều đầu tiên Phật dạy. “Hiếu” thuộc về xuất thế gian, “Dưỡng” thuộc về thế gian pháp. Phải chu tất khi người còn sống cũng như lúc khuất bóng."
"- Hai là nhờ vậy mà họ được dự phần cao phẩm hơn."
"- Ba là hồi hướng cho một vị ở cõi Cực Lạc công đức sẽ lớn vô cùng, nhờ công đức này mà sau này duyên phận giữa ta với họ càng sâu càng nặng, họ không thể không cứu ta, (tính kỹ mà!)."
"- Bốn là, nói Vãng Sanh là xét về sự tướng mà nói, chứ chính chúng ta chưa chứng đắc, chưa có đủ đạo nhãn, thì làm sao dám bảo đảm 100%..."
"Vậy thì phận làm con cháu phải cẩn thận tối đa, phải thận trọng hành theo đúng lễ mới an tâm, mới tránh được những sơ suất, khỏi bị ân hận về sau."
Đồng thời, Thầy nhắc nhở định luật công đức theo lời Phật dạy trong Kinh Địa Tạng:
"Thực tế, những việc làm này cho người quá cố thì ít mà cho chính ta thì nhiều, chính ta đều hưởng hầu hết công đức, còn người đã ra đi chỉ hưởng một phần thôi. Nếu tâm có thành cho mấy đi nữa, dù muốn đem công đức hồi hướng hết đi nữa thì người được hồi hướng chỉ có thể nhận được 1/7 là cùng, còn tất cả chính ta hưởng hết."
Về điều cấm kỵ tối thượng là sát sanh hại mạng, trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm), Chương 4, Câu 22 (trang 89), dưới câu hỏi tổng "Vấn đề kiêng cữ sát sanh hại vật trong 49 ngày sau khi người bệnh ra đi:", Thầy nêu rõ các đáp án chánh kiến:
"a) 49 ngày là thời gian phán xét tội phước, người thân cần tích cực tạo phước sám hối gỡ tội cho vong nhân. Đang sám hối nghiệp chướng mà sát sanh hại vật thì ách nạn càng thêm nặng. [✓ Đúng]"
"b) Sát hại chúng sanh dù vật nhỏ như ruồi, muỗi, kiến, gián… đều tạo ra nghiệp sát, kết thêm mối hận thù với chúng sanh. [✓ Đúng]"
"c) Còn sát sanh hại vật thì rất khó điều giải nạn oán thân trái chủ cho người bệnh. [✓ Đúng]"
Về các tập tục mê tín dị đoan thế gian, trong Bảng Kiểm Chánh Kiến Hộ Niệm (trang 21), Thầy chỉ ra những việc tuyệt đối không được làm:
"10- Có mời “Thầy Cúng” tới giải trừ “Trùng Tang” không? - (Không)."
"12- Vấn đề “Trùng Tang” có đúng với chánh pháp không? - (Không)."
"13- Có lên đồng nhờ gọi hồn để biết hương linh ở đâu không? - (Không)."
"14- Có nên cầu người chết về báo mộng không? - (Không)."
"15- Có cần lập đàn cúng mở mả cho hương linh thoát ra không? - (Không)."
"16- Có lập đàn phá cửa địa ngục cho hương linh siêu thoát không? - (Không)."
"17- Có đốt vàng mã cho người chết dùng không? - (Không)."
Cuối cùng, trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 4), Lá Thư Số 71 (trang 85), Thầy cảnh báo nghiêm khắc về tội lỗi sát sanh cúng tế khiến người thân phải chịu đại họa đọa lạc:
"Cần chú ý rằng, người niệm Phật mà cuối đời bị thất bại, hầu hết đều do con cái phá hoại. Vì không tin Phật pháp nên chúng chống phá niệm Phật, ngăn cản việc hộ niệm. Vì không thấu hiểu chánh pháp nên chúng thường có những việc làm điên đảo như giết hại sanh vật để cúng tế thần linh cầu tiêu tai giải nạn, bộc lộ những tình cảm yếu mềm như khóc than kêu réo thảm thiết lúc cha mẹ ra đi, không kềm chế nổi những hành động dại khờ như níu kéo dằn xóc thân thể người lúc lâm chung... Người đời không biết, nhưng thực tế đây chính là mối đại họa, đã vô ý đày đọa người thân của mình vào tam ác đạo vạn kiếp mà không ai ngờ tới!"
"Lá Thư Số 44: Cảnh giới Trung Ấm!"
"Điều 9: Kiêng cữ sát sanh và làm việc công đức trong 49 ngày"
"Bảng Kiểm Chánh Kiến Hộ Niệm"
"Phụ Lục Lá Thư 64: Dặn Dò Con Cháu Khi Lâm Chung"
"Cúng giỗ người Vãng Sanh"
"Câu 22: Vấn đề kiêng cữ sát sanh hại vật trong 49 ngày"
"Lá Thư Số 71: Nghiệp Quả Lâm Chung"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →