Về vấn đề tro cốt sau khi hỏa táng nên rải biển, gửi vào chùa hay chôn cất và phương pháp xử lý để trọn vẹn buông xả, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Khuyên Người Niệm Phật Tập 4 Thư 71; Tập 2 Thư 37; Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký Quyển 2 Tọa Đàm 070; Quyển 4 Tọa Đàm 192; Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp Vấn Đáp 59).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Sau khi hỏa táng xong xuôi, nhiều gia đình người học Phật thường rơi vào tâm trạng phân vân, lo lắng không biết nên đem tro cốt rải xuống biển, gửi vào chùa hay chôn cất xuống đất mới đem lại sự bình an cho vong linh. Người thế gian vì mang nặng tâm lý chấp ngã, xem thân xác này là chính mình, nên ngộ nhận rằng linh hồn người chết vẫn còn ẩn nấp, ngự trị bên trong hũ tro hay nấm mồ đất. Dưới tuệ nhãn của Phật pháp, nhục thân phàm tục vốn do tứ đại giả hợp mà thành, khi ngọn lửa hỏa thiêu đã tắt thì tro cốt thu lại chỉ là một nắm khoáng chất tro bụi vô tri giác, hoàn toàn không có cảm giác nóng lạnh hay buồn vui.
Người niệm Phật chân thật một đời tha thiết cầu sanh Tịnh Độ, khi xả bỏ báo thân thì thần thức đã nương theo đại nguyện tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà vãng sanh về cõi Cực Lạc thành bậc Bồ Tát mang thân kim cang bất hoại trang nghiêm. Khi thần thức đã siêu thoát về cảnh giới thanh tịnh của Chư Phật, thì cái vỏ bọc thân xác bên ngoài trước sau gì cũng trở về với cát bụi. Trong tác phẩm Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2), Lá Thư Số 37 (trang 123), Cư sĩ Diệu Âm đã thức tỉnh người học Phật cần thấy rõ bản chất huyễn hóa này:
"Khi còn sống thì người thân của mình là cái thân cho nên ta mới lo cho cái thân đó, chứ khi đã chết rồi thì người thân đâu còn ở trong cái xác thân đó nữa, thì lý do gì ta cứ mãi lo cho cái thân? Cứu người phải lấy châm ngôn “còn nước còn tát” quyết lòng bảo vệ cho tới kỳ cùng rồi sự thể ra sao tính sau."
"Những người chỉ lo chú trọng đến cái xác phàm, dù có chôn cất kỹ cho mấy đi nữa, chỉ sau một vài ngày nó cũng thối rữa chắc chắn không còn ai dám tới gần, thì tại sao ta lại cứ quan trọng cái thứ cát bụi đang trở thành cát bụi mà lại quên cái huệ mạng vạn kiếp của người thân!?"
Thấy rõ được điều này, gia đình sẽ không còn mang tâm lý lo sợ hão huyền rằng rải tro xuống biển thì hương linh bị lạnh lẽo, hay chôn dưới đất thì bị đè nặng tối tăm. Mọi sự lạnh ấm khổ vui chỉ chi phối thân xác vật chất hữu hạn, hoàn toàn không dính dáng gì đến Chơn Tâm thanh tịnh của bậc đã giải thoát.
Đối với câu hỏi nên rải biển, gửi vào chùa hay chôn cất xuống đất, Cư sĩ Diệu Âm chỉ dạy rằng Phật pháp không hề câu nệ một hình thức cố định nào. Cả ba phương thức này đều là những tiện nghi thế gian, tang quyến nên tùy duyên gia cảnh, điều kiện thực tế và di chúc của người quá cố mà chọn lựa một cách êm đẹp, hòa hợp:
Để việc hậu sự diễn ra thuận buồm xuôi gió, tránh sự tranh cãi bất đồng giữa con cái sau này, người tu niệm Phật khi còn tỉnh táo nên lập sẵn một tờ di chúc dặn dò rõ ràng. Trong tác phẩm Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 4), Tọa Đàm 192 (trang 239), Thầy đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc di chúc hậu sự:
"Không được đụng chạm vào thân xác sau khi tắt thở cho đến 12 tiếng đồng hồ. Đúng không chư vị? – [✓ Đúng]. Xin nói rõ hơn, đến 12 tiếng đồng hồ cũng không phải là chắc chắn an toàn, nghĩa là không phải muốn đụng chạm sao cũng được, mà cần phải cẩn thận mới tốt. Sau 12 tiếng đồng hồ là thời điểm có thể thăm thân được an toàn hơn trước đó, nhưng dù sao ban hộ niệm cũng phải hết sức thận trọng, chớ nên làm việc bất cẩn."
Khi di chúc đã quy định rõ ràng về việc hộ niệm 8 đến 12 tiếng, không đụng chạm lau rửa sớm, và dặn trước việc hỏa táng rồi rải tro hay gửi chùa, thì con cháu cứ theo đúng nguyện vọng của người mất mà thực hiện, lòng dạ thảnh thơi không còn điều gì tranh cãi.
Điều cốt tử mà Cư sĩ Diệu Âm luôn tha thiết cảnh tỉnh chính là sự buông xả chân thật phải xuất phát từ trong tâm khảm, chứ không nằm ở nơi hình tướng. Nếu một người dặn con cháu đem rải tro xuống biển để chứng tỏ mình buông xả, nhưng trong lòng vẫn còn luyến tiếc cháu con, tiếc nuối căn nhà thửa đất, thì sự buông xả đó chỉ là giả tướng bên ngoài, cuối đời vẫn khó tránh khỏi đọa lạc.
Ngược lại, nếu trong tâm đã dứt sạch muôn duyên, một lòng một dạ hướng về Tây Phương Cực Lạc thì dù tro cốt gửi ở đâu hay chôn ở chốn nào, thần thức cũng tự tại bay về cõi Phật. Thầy chỉ rõ cái họa chấp mồ chấp mả trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), Tọa Đàm 070 (trang 221):
"Người học Phật hãy lấy định luật Nhân Quả của Phật dạy làm căn bản để sống mới tốt. Làm điều thiện phước thì phước thiện có dư. Làm điều xấu ác thì tai ương họa hại kèm sát bên mình. Đây là căn bản của sự tu hành chúng ta cần chú ý, chứ đâu thể kỳ vọng vào những thuyết phiêu phỏng hoang đường để rước khổ nạn vào thân, tiền mất tật mang, tự chuốc lấy phiền não."
Nếu người ra đi hoặc con cháu còn nặng lòng chấp trước vào nắm xương tàn sau khi thiêu, thì chính tâm ái luyến ấy sẽ biến thành xiềng xích trói buộc thần thức loanh quanh bên hũ tro, không nỡ rời đi, đánh mất cơ hội vạn kiếp khó gặp để thoát ly sanh tử. Trong tác phẩm Khuyên Người Niệm Phật (Tập 4), Lá Thư Số 71 (trang 91), Thầy đã dùng lời tha thiết đánh thức người đồng tu:
"Khi vãng sanh rồi thân tướng của ta là kim cang bất hoại, màu sắc óng ánh như vàng nấu chảy, trang nghiêm tốt đẹp như Phật, chứ đâu phải rã rời thối nát như cái xác chết đó đâu. Cho nên, hiểu đạo rồi, người niệm Phật đừng chấp chi những thứ vô thường huyễn hóa nữa, cứ để mặc cho con cháu nó lo. Lo tươm tất thì chúng có hiếu, được phước, làm lượm thượm thì cũng đâu can hệ gì đến một vị Bồ Tát ở cõi Tây Phương. Hãy thành đạo trước về cứu độ chúng sau. Phải quyết lòng buông xả, quyết một đường đi, quyết một hướng cầu vãng sanh Cực Lạc. Đừng sơ ý, lỡ kẹt rồi thì đành phải ôm lấy nắm xương tàn ngàn năm khổ lụy!"
Chính vì vậy, đối với tro cốt, người ra đi hãy buông xả hoàn toàn phó mặc cho con cháu; tang quyến cũng xem việc an táng như trả một món nợ trần lao sau cùng của người thân, đừng đem tâm phiền não gắn chặt vào đống tro vô tri mà đánh mất con đường giải thoát.
Sau khi đã an vị tro cốt hay rải tro thanh thản, bổn phận báo hiếu chân chánh của con cháu không dừng lại ở việc khóc lóc hay chăm sóc hũ tro, mà phải tập trung chuyển hóa tình thương phàm tục thành công đức tu tập cụ thể hồi hướng cho hương linh.
Trong tác phẩm Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, tại phần Vấn Đáp 59 (trang 311), Cư sĩ Diệu Âm giải thích ý nghĩa cúng giỗ và cầu siêu cho người đã vãng sanh mang lại lợi ích thù thắng vô cùng:
"Cầu siêu 49 ngày, 100 ngày, phóng sanh, làm các việc lành hồi hướng cho người ra đi, đây là sự tự nguyện của người còn sống. Việc làm này thể hiện lòng hiếu nghĩa của con cháu đối với ông bà cha mẹ đã ra đi, thể hiện tâm thương kính trước sau như một."
"Nếu người thân được Vãng Sanh, thì ta cũng vì tâm hiếu kính mà làm cho trọn phận làm con cháu, đừng nên ngại ngùng. Tất cả những nghi tiết về tụng kinh Niệm Phật để cầu siêu, Các việc thiện lành, phóng sanh, v.v... chúng ta cũng nên làm và cố gắng làm với lòng chí thành chí kính để hồi hướng công đức cho họ."
Thầy chỉ dạy phương thức cúng giỗ và báo hiếu thiết thực nhất mà gia đình nên thực hiện hàng năm trong chánh văn trác tuyệt (trang 311):
"Sau đó, nhân ngày giỗ kỵ ta vẫn nên tổ chức Niệm Phật, tụng kinh, trai chay thanh tịnh để hồi hướng công đức và tưởng niệm người đã Vãng Sanh. Việc làm này rất tốt, rất có lợi."
"Tọa Đàm 070: Khi Bệnh Tình Không Còn Chữa Trị Được Nữa Gia Đình Cần Làm Gì? (Câu 33a, 33b, 33c)"
"Lá Thư Số 71: Vạn Pháp Duy Tâm & Buông Xả Chấp Trước Nhà Cửa, Phân Định Nghi Thức Hộ Niệm Lâm Chung Và Pháp Môn Nhất Thừa Thật Tướng"
"Lá Thư Số 37: Tổng quát về sự Hộ Niệm!"
"Cúng Giỗ Người Đã Vãng Sanh: Ý Nghĩa Cầu Siêu 49 Ngày, 100 Ngày & Cuộc Trao Đổi Phước Đức "Một Vốn Tỷ Lời" Với Bồ Tát Cực Lạc"
"Tọa Đàm 192: Di Chúc Hộ Niệm – Kiêng Đụng Chạm Thân Xác, Miễn Mổ Tử Thi, Cấm Hiến Tạng & Tránh Tiệc Tùng (Câu 8k – 8o)"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →