Về vấn đề người mất lưu lại thoại tướng tốt nhưng sau đó gia đình sát sanh đãi đằng, cúng tế mặn thì có bị kéo đọa hay không, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã căn cứ vào Kinh Địa Tạng và giáo lý Tịnh Độ để phân định rạch ròi giữa cảnh giới Bồ Tát Bất Thoái Chuyển với các trường hợp chưa vãng sanh còn kẹt trong thân trung ấm (đây là lời khai thị tối quan trọng giúp thân nhân tránh tạo đại họa cho người quá cố).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trước hết, người học Phật cần thấu triệt một chân lý căn bản: nếu một người khi lâm chung thực sự hội đủ ba món tư lương Tín - Nguyện - Hạnh, được Đức Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc thì họ đã viên chứng quả vị Bất Thoái Chuyển (A-bệ-bạt-trí). Họ đã vĩnh viễn thoát ly khỏi sáu nẻo luân hồi hiểm nạn, nhập vào hàng Bồ Tát thanh tịnh đại hải chúng và thọ nhận báo thân kim cang bất hoại.
Trong tập Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (Vấn Đáp 113, Trang 310 – 314), Lão cư sĩ Diệu Âm giải thích tường tận về cảnh giới giải thoát tuyệt đối này:
"Nếu người được Vãng Sanh Cực Lạc, họ đã thành Bồ Tát, thành Thanh Tịnh đại hải chúng rồi. Tình thực mà nói, các Ngài đâu cần chút công đức của ta. Ta có cúng giỗ, tưởng niệm, cầu siêu, lập bàn thờ cho họ hay không, không phải là điều quan trọng đối với họ, mà chính là rất quan trọng đối với chúng ta."
Đã là bậc Bồ Tát nơi cõi Cực Lạc thì thần thức không còn lưu lại cõi Ta Bà, cũng không còn bị trói buộc bởi nghiệp duyên phàm trần. Do đó, các Ngài tuyệt đối không thể bị bất kỳ hành vi vô minh hay nghiệp tội sát sanh nào của người sống ở thế gian kéo đọa trở lại tam ác đạo được.
Tuy nhiên, mối nguy hiểm chí tử nằm ở chỗ: người phàm phu mắt thịt chúng ta không có thiên nhãn hay tha tâm thông, chỉ nhìn vào những thoại tướng bên ngoài như thân xác mềm mại, nét mặt tươi hồng, hơi ấm đỉnh đầu để nhận định, chứ không thể quả quyết tuyệt đối 100% người đó đã vãng sanh thành Phật hay chỉ mới hưởng phước báu sanh về cõi Trời, cõi Người hoặc còn đang phưởng phất trong thân trung ấm 49 ngày.
Tại Vấn Đáp 113, Thầy nhắc nhở tha thiết về sự cẩn trọng mà con cháu bắt buộc phải giữ gìn:
"- Bốn là, nói Vãng Sanh là xét về sự tướng mà nói, chứ chính chúng ta chưa chứng đắc, chưa có đủ đạo nhãn, thì làm sao dám bảo đảm 100%..."
"Vậy thì phận làm con cháu phải cẩn thận tối đa, phải thận trọng hành theo đúng lễ mới an tâm, mới tránh được những sơ suất, khỏi bị ân hận về sau."
Nếu người mất chưa vãng sanh mà gia đình vô tri sát sanh cúng tế, thì hành động ấy sẽ biến thoại tướng tốt lành ban đầu thành chướng duyên đọa lạc tột cùng. Trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm), Câu 54 (Trang 47) đặt câu hỏi khảo sát:
"Người không hiểu đạo thường vô tình tạo duyên đọa lạc cho người chết, ví dụ:"
Và Thầy xác định rõ chân tướng thảm hại của việc sát sanh đãi đằng:
"c) Giết hại sanh vật đãi đằng, cúng tế vong linh làm cho người chết bị nạn càng nặng nề hơn. [✓ Đúng]"
Vì sao việc giết hại sanh vật cúng tế lại khiến người chết bị nạn càng nặng nề hơn? Chánh văn kinh Địa Tạng và lời giảng giải của chư Tổ chỉ rõ: khi một sinh vật bị giết, oán thù của loài vật ngút trời. Chúng không cần biết ai là người trực tiếp cầm dao mổ xẻ, mà chỉ biết vì đám tang của người chết này mà mạng sống của chúng bị tước đoạt, nên chúng kéo đến vây quanh đòi nợ máu và quyết lôi người chết xuống đường ác để đền mạng.
Trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 3), Tọa Đàm 113 (Trang 74 – 78), Lão cư sĩ Diệu Âm đã vạch trần hủ tục thế gian một cách đau xót:
"(c): Giết hại sanh vật đãi đằng, cúng tế vong linh, làm cho người chết bị nạn càng nặng nề hơn."
"Vong linh nào ăn được miếng thịt đó mà gọi là cúng tế vong linh? Chỉ có người còn sống thèm ăn thịt mới bày ra đủ trò để có dịp ăn nhậu lại đổ tội cho vong linh. Con người vì thèm miếng thịt nên giết sinh vật để ăn. Vì món nợ này mà khi xả bỏ báo thân bị chúng sanh vây quanh hãm hại, quyết lòng kéo người này xuống tam đồ ác đạo để trả thù, đòi nợ. Bây giờ nhân ngày chết của vong nhân, người thân lại tiếp tục sát hại sanh vật để đãi đằng, cúng tế nữa thì vong nhân chịu nợ máu càng thêm nặng, tội càng thêm lớn, chướng càng thêm sâu, sự trả thù càng thêm dữ tợn, thì làm sao vong linh có được một phút an ổn để ăn được món thịt đây? Oán trước hận sau vô cùng hung hãn, biết đến bao giờ mới hóa giải được?"
Tiếp nối lời cảnh tỉnh bi thương đó, trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 3), Lá Thư Số 61 (Trang 163 – 176), Thầy chỉ rõ người đã khuất vô cùng đau đớn khi thấy thân nhân nhân danh thương xót mình mà tạo nghiệp sát:
"Chứ thương ông bà, cha mẹ, mà cứ lao chao chạy làm câu liễn cho đẹp để khoe cái cảnh vô thường; lo giết heo, giết gà, cho nhiều để thếch đãi khách khứa kỷ niệm ngày người thân ra đi; chạy tìm người viết câu điếu tang thật ảo não bi ai để đọc lên nghe cho thấm thía mùi ly biệt! Rồi sửa soạn tấm hình cho thật đẹp chờ chưng lên bàn thờ... thì coi chừng người trong hình đau thương đến rơi nước mắt đó! "
Một số người lầm tưởng rằng con cháu sát sanh thì con cháu tự chịu tội chứ người chết không liên can. Nhưng kinh Địa Tạng đã dạy rất rõ: trong bảy phần công đức hay tội báo làm ra, người sống hưởng đến sáu phần, người chết chỉ nhận một phần. Tuy người chết chỉ gánh một phần, nhưng chính một phần nợ máu này lại là sợi dây oan nghiệt trói chặt thần thức đang bơ vơ trong giai đoạn trung ấm, ngăn cản con đường hướng thượng vãng sanh.
Tại Vấn Đáp 113, Lão cư sĩ Diệu Âm nhắc lại định luật phân chia nghiệp quả chuẩn xác từ lời Phật dạy:
"Thực tế, những việc làm này cho người quá cố thì ít mà cho chính ta thì nhiều, chính ta đều hưởng hầu hết công đức, còn người đã ra đi chỉ hưởng một phần thôi. Nếu tâm có thành cho mấy đi nữa, dù muốn đem công đức hồi hướng hết đi nữa thì người được hồi hướng chỉ có thể nhận được 1/7 là cùng, còn tất cả chính ta hưởng hết."
Nếu con cháu làm điều thiện, phóng sanh, ăn chay niệm Phật thì người chết được hưởng một phần phước thanh tịnh để cất cánh bay lên. Ngược lại, nếu giết hại sanh mạng cúng tế, thì người chết bị trút thêm oán hận, dù có thoại tướng lành ban đầu cũng rất dễ bị oán thân trái chủ kéo ghì xuống địa ngục thọ nạn.
Để ngăn ngừa triệt để nguy cơ tai hại này, người phật tử lúc còn tỉnh táo bắt buộc phải lập Tờ Di Chúc rõ ràng, nghiêm cấm gia đình thân quyến sát sanh cúng mặn sau khi mình qua đời. Trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm), Câu 93 (Trang 76 – 78), Thầy nêu bật nội dung thiết yếu của di chúc:
"Muốn cuộc hộ niệm tránh nhiều trở ngại thì tờ di chúc rất cần thiết. Những gì cần ghi trong di chúc?"
Để triệt tiêu các hủ tục hại người, Thầy khẳng định dứt khoát:
"v) Phải làm theo tục lệ của thế gian như: giải trùng tang, thuê người khóc mướn, trống kèn, giết hại sinh vật đãi đằng… [✗ Sai]"
Con đường báo hiếu trọn vẹn và đúng pháp nhất cho người quá cố, dù người đó đã vãng sanh hay chưa, là con cháu phải tổ chức cúng giỗ bằng cỗ chay thanh tịnh, phóng sanh tu phước và đồng thanh niệm Phật hồi hướng. Trong Vấn Đáp 113, Thầy chỉ dạy cặn kẽ:
"Sau đó, nhân ngày giỗ kỵ ta vẫn nên tổ chức Niệm Phật, tụng kinh, trai chay thanh tịnh để hồi hướng công đức và tưởng niệm người đã Vãng Sanh. Việc làm này rất tốt, rất có lợi."
"Đối với người chưa được siêu sanh thì nhờ đó mà được giảm tội tăng phước, giúp họ có cơ duyên siêu sanh. Đối với người đã được siêu sanh, thì chính lòng thành của chúng ta sẽ được hồi đáp bằng những công đức lớn vô lượng. Nhất định có lợi, lợi người, lợi ta, không có gì phải ngại ngùng."
"Cúng Giỗ Người Đã Vãng Sanh: Ý Nghĩa Cầu Siêu 49 Ngày, 100 Ngày & Cuộc Trao Đổi Phước Đức "Một Vốn Tỷ Lời" Với Bồ Tát Cực Lạc"
"Câu 54: Người không hiểu đạo thường vô tình tạo duyên đọa lạc cho người chết, ví dụ:"
"Câu 93: Muốn cuộc hộ niệm tránh nhiều trở ngại thì tờ di chúc rất cần thiết. Những gì cần ghi trong di chúc?"
"Tọa đàm 113: Khảo sát Chánh Kiến – Người không hiểu đạo thường vô tình tạo duyên đọa lạc cho người chết (Vấn đề 13)"
"Lá Thư Số 61: Làm thiện tích phước để hỗ trợ vãng sanh!"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →