Về vấn đề người cả đời không tu tập đến lúc lâm chung mới biết niệm Phật có kịp vãng sanh hay không, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Khuyên Người Niệm Phật Tập 1, 2, 3; Giảng Ký Quyển 2, Tọa Đàm 072, 089; Vấn Đáp, trang 239; Trắc Nghiệm, Câu 8).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong tập thư chánh văn Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2), Lá Thư Số 29, trang 47, Thầy giải đáp tường tận cho người mới bắt đầu tu tập khi tuổi đã xế chiều:
"Bây giờ bắt đầu tu còn kịp không? Dư sức kịp. Tu bao lâu mới thành? Nếu nhứt tâm niệm Phật từ một ngày đến bảy ngày thì thành tựu, (xem kinh “Phật thuyết A Di Đà”). Thậm chí niệm Phật 10 câu trước lúc lâm chung cũng được vãng sanh (Nguyện 18, kinh Vô Lượng Thọ). Có bằng chứng không? Có, không những có mà còn có nhiều lắm. Ví dụ cụ thể nhứt mới vài năm về trước ông Châu Quảng Đại tại Washington DC, một người chưa từng tu Phật nhưng cơ may đến ông niệm A Di Đà Phật ba ngày thôi được vãng sanh về Tây Phương, ông đã trút được gánh nặng của bệnh ung thư tàn tệ đang nằm chờ chết."
Thầy nhấn mạnh then chốt vãng sanh chính là trọn vẹn Tín Nguyện, trang 47:
"Chỉ cần có lòng TÍN tâm vững mạnh, chí thành NGUYỆN vãng sanh Tây Phương Cực Lạc là được vãng sanh. Đây là lời khẳng định của Đại sư Ngẫu Ích, của tất cả 13 Vị Tổ Sư Tịnh Độ Trung Hoa đều khuyên như vậy. Vị đại sư Sơ Tổ Tịnh Độ tông của Việt Nam, người viết cuốn Niệm Phật Thập Yếùu cũng xác định như vậy. Có Tín có Nguyện vãng sanh rồi thì ngày đêm trì giữ câu Phật hiệu để tiêu nghiệp chướng, để biến tâm mình thành tâm Phật, để đắc vãng sanh về phẩm vị cao ở thế giới Cực Lạc."
Lý giải sâu xa vì sao người phàm phu đầy dẫy nghiệp chướng vẫn được vãng sanh, trong bộ Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), Tọa Đàm 072, trang 238, Thầy khai thị:
"34(b): Cần trì thêm các chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm, v.v... để Pháp Hộ Niệm được mạnh hơn."
"Đúng không chư vị? – [✗ Sai]. Cũng sai luôn. Chúng ta thường nghe câu nói: “Tụng Kinh không bằng tụng Chú, tụng Chú không bằng Niệm Phật”. Một vài ngày nữa người bệnh có thể ra đi rồi, còn thời gian nào nữa để cầu tiêu tai giải nạn! Cách giải nạn hay nhất là khuyên người bệnh đó quyết lòng niệm A Di Đà Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Đây không những là cách giải những nghiệp báo hiện tiền mà còn là cách giải thoát sanh tử luân hồi, vãng sanh thành Phật. Tuyệt vời! Vi diệu! Quyết tiêu trừ nghiệp chướng để giải nạn khó lắm, người phàm phu không thể dùng cách này để thoát nạn được đâu. Nhưng một người phàm phu mà đầy đủ Tín Nguyện Hạnh trước lúc xả bỏ báo thân sẽ được vãng sanh Cực Lạc, gọi là “Đới Nghiệp Vãng Sanh”."
Thầy giảng rõ nguyên lý vượt qua nghiệp chướng bằng tha thiết nguyện vãng sanh, trang 238:
"“Đới Nghiệp Vãng Sanh” pháp tu dễ thành tựu, nhưng đạo lý vi diệu, ý nghĩa thâm sâu, không thể một vài dòng có thể giảng giải viên mãn đâu. Ở đây chúng ta chỉ xin lấy lời Phật dạy trong kinh Vô Lượng Thọ mà nói, thì Pháp Niệm Phật là pháp tu băng ngang qua nghiệp chướng, đi thẳng về Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải bắt buộc tận trừ nghiệp chướng rồi mới vãng sanh. Tiêu trừ nghiệp chướng, đoạn sạch nghiệp hoặc, cầu cho nghiệp sạch tình không rồi mới giải thoát là cách tu của các vị tự lực tu chứng, đường tu này vô cùng gian truân, thành tựu rất hiếm hoi, hàng phàm phu không thể thực hiện nổi."
Thầy chỉ rõ đây chính là lý đạo thuận theo tâm nguyện giải thoát, trang 238:
"Một người suốt đời tu hành, đời đời cứ tiếp tục tu tới vô lượng kiếp chưa thể phá được nghiệp, thì làm sao một người sắp sửa xả bỏ báo thân, sức khỏe suy kiệt, tinh thần tán loạn lại có thể phá được nghiệp chướng. Không phá nghiệp chướng mà nghiệp chướng tự bế tắt chính là nhờ Pháp Niệm Phật được đới nghiệp vãng sanh. Hay nói rõ hơn, về lý đạo thì đây là pháp “Tùng nguyện vãng sanh” chứ không phải “Tùng nghiệp thọ báo”. Đạo lý “Vạn pháp duy tâm sở hiện” đã được thực hiện triệt để ở pháp môn này, người niệm Phật có thể vượt qua được nghiệp chướng nhờ tâm nguyện vãng sanh. Câu A Di Đà Phật có năng lực bao phủ nghiệp chướng lại, cho phép hành giả theo nguyện mà vãng sanh gọi là “Đới Nghiệp Vãng Sanh”."
Trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), Tọa Đàm 089, trang 396, Thầy nêu tấm gương vua A Xà Thế tạo tội cực trọng vẫn được vãng sanh nhờ biết sám hối và niệm Phật:
"Trong kinh Quán Vô Lượng thọ có nói về ông A Xà Thế, một ông vua giết vua cha cướp ngôi, kết bè với Đề Bà Đạt Đa hại Phật, bắt mẹ giam trong lãnh cung, không cho ăn để cho chết. Tội này thuộc về ngũ nghịch, quả báo đến địa ngục A Tỳ. Nhưng cuối đời nhờ quần thần nhắc nhở, ông đã đến quỳ dưới chân Đức Thế Tôn kiệt thành sám hối, Phật dạy ông niệm A Di Đà Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, và ông vãng sanh tới Thượng Phẩm Trung Sanh. Đây là một trường hợp hộ niệm vãng sanh được Phật nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Ban hộ niệm chính là quần thần trong triều nhắc nhở chỉ điểm, Đức Thế Tôn khai thị cho đường thoát nạn. Ông vua A Xà Thế đã ăn năn hối hận, quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh và đã được vãng sanh."
Tiếp đó tại câu trắc nghiệm 1(q), trang 396, Thầy khẳng định người dẫu tạo tội lớn nhưng cuối đời biết hồi đầu niệm Phật vẫn được cứu:
"1(q): Người dù đã gây nên tội lớn, nhưng biết hồi đầu kiệt thành sám hối, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ vẫn có thể được vãng sanh."
"Đúng không chư vị? – [✓ Đúng]. Nội dung câu này vừa được chứng minh bên trên. Hai câu (p) và (q) này đưa ra một vấn đề vô cùng tế nhị. Một người tu nhiều nhưng không tin vãng sanh thì không được vãng sanh. Ngược lại, một người không tu, ít tu, tạo nhiều tội chướng… nhưng cuối đời có cơ may gặp được thiện trí thức khuyên niệm Phật cầu nguyện vãng sanh, họ phát tâm tin tưởng, kiệt thành sám hối, quyết lòng niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ, vậy mà họ được vãng sanh. Sự kiệt thành sám hối này thì công phu tu hành, phước đức, trí huệ không thể sánh bằng những người chân chánh tu hành lâu năm được, nhưng nhờ thiện căn kết tập được trong nhiều đời kiếp quá khứ, nên khi vừa gặp duyên họ liền phát tâm tin tưởng, kiệt thành sám hối, niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc mà họ được vãng sanh."
Thầy giải thích rõ việc niệm Phật phải dứt trừ nghi ngờ để cảm ứng đạo giao, trang 396:
"Niệm Phật chí thành, niệm Phật nhất tâm tạo nên công đức vô lượng. Nếu niệm Phật không chí tâm, niệm Phật mà ngờ ngờ nghi nghi, thôi đành chịu thua, không có công đức lớn đâu. Niệm Phật mà nghi nghi ngờ ngờ không thể vãng sanh được."
"Quyết lòng niệm Phật phải đoạn cái niềm nghi ngờ này đi. Niệm Phật phải đoạn nghi sanh tín. Chỉ cần tín tâm vững vàng mà ông A Xà Thế một đời tạo tội cực trọng vẫn được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Chỉ cần có tín tâm vững vàng như vậy mà ông Trương Thiện Hòa một đời giết trâu giết bò, sau cùng tướng địa ngục hiện ra, nhờ được thiện tri thức chỉ điểm, ông phát tâm niệm Phật 15 phút mà được cảm ứng đạo giao, vãng sanh Tịnh Độ. Còn trong thời nay có những trường hợp nào tương tự như vậy không? Thực sự có nhiều lắm. Ví dụ cụ thể, như nhiều người lầm lỡ phá thai, tạo nên tội chướng sâu nặng, đến sau cùng nhờ được ban hộ niệm chỉ đường dẫn lối, họ quyết lòng ăn năn sám hối, quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh mà được vãng sanh, ra đi lưu lại tướng lành bất khả tư nghì."
"Quyết lòng sám hối, niệm Phật cầu nguyện vãng sanh là cái chìa khóa bằng vàng, giúp cho một người tội chướng sâu nặng vượt qua nghiệp lực, theo nguyện lực trở về Tây Phương Cực Lạc thành đạo. Phải có niềm tin vững vàng mới làm được chuyện này, không có niềm tin thôi chịu thua. Niềm tin vô cùng quan trọng, xin chư vị nhớ cho."
Thầy nhắc nhở không thể nhìn vào những sơ suất hiện tại mà vội phán xét con đường vãng sanh của người khác, trang 396:
"Một người đời này tin tưởng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là do thiện căn phước đức tu tập được từ trong quá khứ. Chúng ta không có thần thông đạo lực gì, thì làm sao biết được quá khứ của một người? Vậy thì, không thể nhìn vào những sơ suất hiện tại mà xác định họ không được vãng sanh. Người hiểu thấu lý đạo của Phật phải nói đúng theo lời Phật dạy, phải hướng dẫn thẳng con đường giải thoát, phải giới thiệu Tây Phương Cực Lạc cho họ vãng sanh, còn được vãng sanh hay không thì tùy duyên của họ, chứ ta không thể ngăn chận con đường thành tựu đạo nghiệp của một người được."
Thầy cũng nhắc lại tấm gương đồ tể Trương Thiện Hòa trong Tọa Đàm 072, trang 238:
"Trong lịch sử niệm Phật có ông Trương Thiện Hòa, Trương Chung Quỳ là những vị một đời làm ác, giết hại trâu bò, đến lúc sắp xả bỏ báo thân thì tướng địa ngục hiển hiện, người đầu bò hiện ra đòi mạng. Trong cơn nguy khốn hoảng sợ ấy, may gặp được người biết đạo dạy cho ông ta đừng để ý tới những hiện tượng đó nữa, hãy niệm A Di Đà Phật cầu vãng sanh. Những cảnh kinh hoàng trước mắt là động lực giúp ông ta nhiếp tâm kiệt thành niệm Phật, niệm Phật chỉ trong vòng 15 phút thì những người đầu bò biến mất, A Di Đà Phật xuất hiện tiếp dẫn ông trở về Tây Phương Cực Lạc. Những hiện tượng vi diệu này ngày xưa đã có, ngày nay cũng thường xuyên xảy ra ở các cuộc hộ niệm đó đây."
Tại tập sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 1), Thư 21, trang 173, Thầy chia sẻ câu chuyện hy hữu của một người bác ở Long Khánh:
"Chuyện thứ hai ở Long Khánh, nếu đúng như lời của Lộc và Sáu Luân kể, thì đây thực sự là được Vãng sanh. Thật quá may mắn, hy hữu, hiếm có! Một triệu người may ra mới có một chứ không phải thường. Mấy năm trước đây, ở Mỹ có ông Châu Quảng Đại cũng được cái may mắn này, ông ta niệm Phật ba ngày được vãng sanh. Ông Bác Long Khánh này một đời không tu hành gì nhiều, đến cuối đời được người điềm chỉ, ông phát lòng tin chịu niệm Phật chỉ một thời gian rất ngắn đã thành tựu đạo quả, được vĩnh viễn thoát khỏi sinh tử luân hồi, thọ hưởng phước báu vô cùng vô tận ở Tây Phương Cực Lạc Thế giới của Phật A Di Đà. Giờ đây Ngài đã là một vị Bồ Tát rồi chứ không phải thường nữa đâu."
Thầy phân tích tâm thế buông xả đặc biệt của bác lúc lâm chung, trang 173:
"Bác này dù hồi giờ không tin, không niệm Phật, nhưng khi đã già, bị bệnh hoạn, không còn cách lựa chọn nào khác là nằm chờ chết. Sự chết đối với bác đã là đương nhiên rồi nên không thèm sợ nữa, bác bình tĩnh chờ ngày đó. Chính vì thế mà bác đã biết buông xả tất cả thế sự nhân tình, vì có lo lắng cũng không được gì. Trong trạng thái an tịnh như vậy, gặp được duyên lành, như người đang chết đuối vớ được cái phao. Bác chấp nhận dễ dàng, thoải mái, tin tưởng, quyết chí đi."
"Ở đây Bác đã có niệm Phật, có nguyện vãng sanh Tịnh Độ và cho con cháu niệm Phật hộ niệm, như vậy bác được siêu sanh thẳng về Tây Phương Cực Lạc. Đây là một thiện căn, phúc báu, nhân duyên lớn vô cùng vô tận! Có người tu hành nhiều đời nhiều kiếp chưa chắc đã sánh bằng! Quá may mắn! Nhiều thiện căn! Đại phúc đức! Đại thiện duyên!"
Trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 3), Lá Thư Số 59, trang 137, Thầy thuật lại chi tiết trường hợp ông Châu Quảng Đại:
"Để thức tỉnh người đạo hữu đó, tôi đem chuyện ông Châu Quảng Đại, mà trong giảng pháp của Ngài Tịnh không thường nhắc đến, tóm tắt kể cho chị nghe. Ông Châu Quảng Đại một người ở Washington (Mỹ), suốt đời không biết gì về Phật pháp, không tin Phật. Đến cuối đời mắc phải bệnh ung thư không còn chữa được, sắp chết. Vì quá sợ chết cho nên mới sai người nhà chạy khắp nơi cầu cứu. May mắn cho ông ta, gặp được những đồng tu niệm Phật phân tích cho ông ta biết rằng, cái mạng của ông không còn cứu được nữa đâu, chi bằng hãy buông xả đi, quyết tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Ông nghe theo, quyết lòng niệm Phật và mời đồng tu về hộ niệm. Niệm Phật chỉ trong ba ngày đã được Phật A Di đà hiện thân tiếp dẫn, an nhiên vãng sanh. (Ông Châu Quảng Đại vãng sanh trong khoảng những thập niêm cuối của thế kỷ 20)."
Giải đáp thắc mắc vì sao người cả đời không tu mà lâm chung lại được vãng sanh, trong bộ Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, trang 239, Thầy giảng rõ chân tướng nhân quả:
"Một người trong một đời này có phước phần được Hộ Niệm lúc lâm chung không phải là sự ngẫu nhiên, mà do cái nhân lành tu được trong nhiều đời kiếp trước. Do đó, được Vãng Sanh suy cho cùng cũng đều có nhân quả. Chúng ta đều dựa vào nhân và duyên của một người mà giúp họ hưởng cái quả báo tốt đẹp mà thôi. Tin được pháp môn Niệm Phật khó lắm!"
Thầy chỉ ra người cuối đời tin Phật niệm Phật là do phước đức nhiều kiếp hội tụ, trang 239:
"Một người dù ít tu hành, nhưng cuối đời phát tâm tin tưởng vững vàng vào pháp Niệm Phật và trì giữ câu Phật hiệu mà niệm là nhờ nhiều thiện căn kết tụ lại mà có. Người cuối đời được cơ duyên gặp thiện trí thức nhắc nhở, khai thị, Hộ Niệm, họ Niệm Phật mà Vãng Sanh là nhờ có phước báu trong nhiều đời kiếp trước tu được đưa đẩy đến. Thiện căn nhiều thì tin tưởng mạnh. Phước báu lớn thì lúc xả bỏ báo thân hưởng được nhiều sự an nhiên, bớt phần đau khổ. Người đủ cả thiện căn và phước đức thì ra đi an nhiên và được Vãng Sanh một đời viên mãn giải thoát."
Thầy phân tích đạo lý nhân quả thông suốt ba đời, trang 239:
"Nhiều người lý luận rằng, một vị nào đó đã tu hành khổ cực suốt đời mà chưa được Vãng Sanh Tây Phương, thì làm sao một người bình thường chỉ cần được Hộ Niệm mà có thể Vãng Sanh? Người có ý kiến này vì chỉ nghĩ tới Nhân Quả hạn hẹp riêng trong một đời này, chứ chưa hiểu rằng “Nhân quả thông ba đời”."
"Ba đời là quá khứ, hiện tại, vị lai. Quá khứ là vô lượng kiếp trong quá khứ, hiện tại là đời này, tương lai là vô lượng kiếp về sau. Quả báo tùy theo cái duyên mà có thể là hiện báo, sanh báo, hay hậu báo. Hiện báo, hay còn gọi là “Hoa báo”, là nhân đời này hưởng quả trong đời này. Sanh báo là nhân đời này hưởng quả trong khoảng một hai hay ba đời sau. Hậu báo là quả báo hưởng được từ cái nhân trong nhiều đời nhiều kiếp quá khứ. Người Niệm Phật Vãng Sanh không ngoài ba cái nhân quả này. Hơn thế nữa, được Phật lực gia trì nên thành tựu nhanh chóng, viên mãn."
Tại sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm), Câu 8, trang 12, trước câu hỏi: "Tại sao cần phải hộ niệm?", các mệnh đề xác định rõ tầm quan trọng sống còn của việc hộ niệm khi thân hoại mạng chung:
"Tại sao cần phải hộ niệm?"
"a) Đến thời mạt pháp này nghiệp chướng của chúng sanh quá nặng. Cần phải hộ niệm mới giúp được người bệnh vượt qua ách nạn của nghiệp báo. [✓ Đúng]"
"c) Lúc còn khỏe thì có thể lý luận, đến khi nằm xuống thì các căn tán hoại, nếu không được hộ niệm thì coi chừng uổng phí một đời tu hành. [✓ Đúng]"
"d) Người bệnh còn rất nhiều vướng mắc khác. Cần phải hộ niệm mới hóa gỡ được giúp người bệnh chuyên nhất niệm Phật cầu vãng sanh. [✓ Đúng]"
"f) Phàm phu khi lâm chung bị nghiệp khổ bức bách, gia sự rối ren, oán thân trái chủ trả thù đòi nợ rất nguy hiểm… nếu không được hộ niệm rất khó thoát nạn. [✓ Đúng]"
"g) Người tu hành lâu năm thì không cần hộ niệm cũng được vãng sanh. [✗ Sai]"
"h) Người nào niệm Phật đã đạt được tam muội thì có thể không cần đến hộ niệm, ngoài ra ai cũng cần đến hộ niệm. [✓ Đúng]"
Cảnh báo tâm lý ỷ lại nguy hiểm, trong bộ Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, trang 239, Thầy nghiêm khắc căn dặn:
"Nói như vậy hoàn toàn không có ý nói rằng, người lười biếng dễ được Vãng Sanh. Xin đừng ỷ lại rằng mình có nhiều thiện căn phước đức mà coi chừng bị vướng phải chông gai. Người cẩn thận tu phước tu thiện sẽ dễ tạo nên cái duyên thù thắng để sau cùng có cơ hội được Hộ Niệm, niệm được câu Phật hiệu Vãng Sanh Cực Lạc."
Trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 1), Thư 15, trang 112, Thầy nhắc nhở không thể xem thường phút lâm chung, bởi phần đông chúng sanh lúc lâm chung đều bị mê mờ hoặc đau đớn bức bách:
"Mới đây có một Phật tử hỏi thầy Ngộ Thông như vầy: “Thưa thầy, con cũng quyết tâm niệm Phật và cầu vãng sanh, nhưng điều kiện để được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc là khi lâm chung phải được tỉnh táo và niệm cho được mười câu Phật hiệu. Con thấy một trăm người chết người nào cũng mê man bất tỉnh hoặc quằn quại đau đớn ra đi, thì làm sao niệm Phật được. Điều này làm cho con lo lắng vô cùng và nhiều lúc thấy chán nản, vì làm sao biết mình sẽ được may mắn, không bị mê man khi ra đi đây?”."
"Để trả lời câu hỏi này, Thầy đã nghiêm khắc cảnh cáo, “Coi chừng cô niệm Phật bể hầu bể họng, niệm suốt cuộc đời cũng không thể vãng sanh ...”. Trong nhiều lần khai thị, Hòa Thượng Tịnh Không cũng thường nhắc đến chuyện này rằng, có người niệm Phật một thời gian rất ngắn mà được an nhiên vãng sanh về Tây Phương bất thối thành Phật, có người niệm một ngày cả vạn câu, bể hầu bể họng, nhưng cuối cùng vẫn chỉ là kết duyên với Phật mà thôi, nghĩa là đọa lạc vẫn hoàn đọa lạc."
"Ba điều kiện này thiếu một thì phải bị rớt, tu hành siêng cần tới đâu cũng bị rớt. Tín Nguyện Hạnh là ba chân của cái đảnh, một chân yếu cái đảnh sẽ ngã. Người niệm Phật, khi niệm tuyệt đối : Không hoài nghi, không xen tạp và không gián đoạn. Niệm Phật vô ý phạm phải một trong ba điều cấm kỵ này không được vãng sanh, nhất là tạp niệm."
Thầy tha thiết nhắc nhở mỗi người phải biết lo sám hối, tạo phước và củng cố tín nguyện ngay từ hôm nay, trang 112:
"Bây giờ, bước thêm bước nữa là Sám Hối và Tạo Phước. Sám Hối là phải nhận biết và ăn năn về tội lỗi. Tạo Phước là lấy công chuộc tội, có như vậy tội mới diệt, phước mới sanh. Người có thiện căn tu hành mà thiếu phước báu thì chướng ngại trùng trùng, nó tìm cách ngăn trở mình, trong đó khơi mồi lửa giận là dễ nhứt. Vì chỉ cần lừa dịp chọc cho lửa giận phát lên là xong."
"Như vậy, muốn thành Phật bắt buộc phải Tín Nguyện Hạnh đầy đủ, chứ không thể tự mình cứ nghĩ sao làm vậy. Trong Tín Nguyện Hạnh này chỉ làm sai một ly có thể uổng công tu hành. Đọa lạc vẫn phải bị đọa lạc."
"Lá Thư Số 29: Niệm Phật: Con đường cứu mẹ!"
"Tọa Đàm 072: Ngoài Niệm Phật Ban Hộ Niệm Có Thể Làm Thêm Điều Gì? (Câu 34a, 34b, 34c)"
"Tọa Đàm 089: Tín Nguyện Vãng Sanh, Sám Hối Nghiệp Chướng & Thoát Ba Đường Ác (Câu 1p, 1q, 1r)"
"21 - Lời khuyên song thân"
"Lá Thư Số 59: Đừng tự đoạn mất đường giải thoát!"
"Nhờ Thiện Căn và Phước Đức đầy đủ."
"Câu 8 (Trang 12 – 13)"
"15 - Lời khuyên song thân"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →