Về vấn đề người bệnh quá yếu không thể niệm Phật thành tiếng mà chỉ niệm thầm trong tâm hoặc lắng nghe tiếng niệm Phật, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Khuyên Người Niệm Phật Tập 1, 2, 3; Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp; Giảng Ký Quyển 1, 2, 4; Trắc Nghiệm).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 1), mục 19 - Lời khuyên song thân (trang 161), Thầy phân định rõ ràng sự khác biệt giữa miệng xưng và tâm niệm, khẳng định gốc rễ của sự cảm ứng đạo giao nằm ở tấm lòng nhớ Phật:
"Xin cha má nhớ cho, niệm Phật chính là TÂM NIỆM CHỨ KHÔNG PHẢI MIỆNG NIỆM. Niệm Phật là trong tâm lúc nào cũng tưởng nghĩ nhớ tới Phật, tất cả đều nhứt tâm hướng về Phật mới gọi là niệm Phật. Còn miệng là dùng để nói, kêu, gọi... Phật, chuyên môn hơn một chút gọi là miệng XƯNG PHẬT. Cho nên mới có danh từ là Xưng Niệm. Xưng thuộc về miệng, niệm thuộc về tâm, lâu ngày mình cứ gọi chung là niệm Phật cho đơn giản, chứ thực ra miệng xưng là để nhắc cho cái tâm niệm Phật."
"Vì cái tâm cứ chạy rông cho nên cái miệng phải xưng A Di Đà Phật cho lớn để kéo cái tâm về, để chuyển hóa hoàn cảnh, chuyển phiền não thành ra A Di Đà Phật để đưa về tâm. Hễ cái tâm càng xao lãng thì niệm càng lớn để đánh thức, đó là cái phương tiện để đánh thức cái tâm. Khi đã thức tỉnh rồi thì tất cả những thứ gì làm tâm mình bị chi phối phải liệng đi, quên đi, bỏ đi để cho tâm mình thanh tịnh niệm Phật. Chứ còn bây giờ đi đâu cũng lo với lắng, giờ giờ phút phút đều nghĩ tới hết chuyện này đến chuyện khác, thì dù cho miệng có kêu “A Di Đà Phật” đến khan cổ bể hầu cũng chỉ là vô ích mà thôi!"
Cùng mạch lý giải ấy, trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2), Lá Thư Số 26: Cứu người như cứu lửa! (trang 17), Thầy nhấn mạnh thêm về sự chí thành liên tục trong tâm:
"Niệm Phật càng nhiều càng tốt, nhưng quan trọng là phải niệm cho sâu, thành tâm, chí thiết. Nếu niệm nhiều mà tâm loạn xạ, thì cũng vô ích. Niệm Phật chính là tâm niệm chứ không phải miệng niệm. Niệm nhiều tức là niệm liên tục, không chừa kẽ hở nào để cho các thứ tạp niệm khác khỏi xen vào."
Trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 1), mục 12 - Lời khuyên song thân (trang 93), Thầy khẳng định rằng người lâm chung dù miệng không cất tiếng được nhưng tâm tỉnh táo niệm theo tiếng hộ niệm thì vẫn được vãng sanh:
"Hộ Niệm rất quan trọng. Ngoài những người niệm Phật được “nhất tâm bất loạn” tự tại vãng sanh, hầu hết người được vãng sanh là nhờ sự hộ niệm lúc lâm chung. Hộ Niệm là người khoẻ mạnh niệm Phật phụ cho người ra đi, giữ chánh niệm cho người sắp lâm chung, nhắc nhở người ra đi cố gắng giữ tiếng Phật hiệu liên tục để bảo đảm niệm được mười câu “A Di Đà Phật” trước khi ra đi. Một điểm nữa là chính lòng thành tâm của người hộ niệm góp phần rất lớn để giúp thần thức người lâm chung được chiếu xúc quang minh của A Di Đà Phật."
"Người ra đi nhiều lúc quá mệt, quá yếu không cất tiếng niệm được, thì tiếng niệm Phật của người Hộ Niệm rót liên tục vào tai người đi, giúp cho tâm họ niệm theo. Miệng không niệm được nhưng trong tâm niệm Phật vẫn được vãng sanh như thường. Cho nên, điều kiện tối quan trọng là lâm chung tâm phải tỉnh táo. Những người bị tai nạn, nạn nước, nạn lửa, bị bạo tử... khó được vãng sanh vào cảnh giới tốt là vì lý do không tỉnh táo và bị hốt hoảng, bị khủng bố."
Giải đáp trường hợp người bệnh đau nặng không còn cất lời nổi nhưng tâm thức vẫn tỉnh táo, tại Lá Thư Số 26: Cứu người như cứu lửa! thuộc sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2) (trang 22), Thầy chỉ dạy rất rõ:
"Nếu ngày thường bác niệm Phật, lúc đau nặng niệm không được nữa, điều này có thể rơi vào hai trường hợp. Một là như em vừa nói ở trên, đã giải quyết rồi. Hai là, vì sức khoẻ quá yếu không cất lời nổi chứ trong tâm vẫn tỉnh táo. Đây cũng là chuyện thường tình! Vì nghiệp chướng từ vô lượng kiếp tới giờ nhiều quá, mới niệm Phật ngắn thôi nên phá trừ chưa nổi, thành thử khi lâm chung phải bị nghiệp chướng phá đám. Không sao! Miễn sao người bệnh vững tin Phật, một lòng niệm thầm trong tâm liên tục cho đến khi nào tắt thở thì được đới nghiệp vãng sanh Tây Phương Cực Lạc ở phẩm hạ, nghĩa là cũng được chứng bất thối Bồ tát ngon lành. Người hộ niệm đóng vai trò rất quan trọng trong những trường hợp này, nếu không có người hộ niệm, sợ rằng người ra đi không đủ sức tự chống chọi với oan gia trái chủ đâu."
Trong bộ Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 1), Tọa Đàm 018 (trang 172), Thầy minh giải vì sao người bệnh tự niệm không nổi nhưng lắng nghe đại chúng hộ niệm rồi âm thầm niệm theo trong lòng lại đạt thành tựu vãng sanh:
"Xin thưa với chư vị, hãy thử hỏi, tại sao một người ít tu mà sau cùng lại được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc? Đây chính là vì cái duyên phần của họ tốt lắm đấy. Họ là những người hiền lành chất phác, khi ban hộ niệm đến hướng dẫn nói đâu họ nghe đó. Họ thực hiện được đầy đủ niềm tin là một, tha thiết muốn vãng sanh cho sớm là hai, và thành tâm niệm Phật là ba. Nhiều lúc tự niệm Phật không nổi, nhưng nghe tiếng niệm Phật của đại chúng, họ âm thầm thành khẩn niệm theo: “A Di Đà Phật… A Di Đà Phật… A Di Đà Phật…” ngay trong lúc xả bỏ báo thân, họ tắt hơi trong tiếng niệm Phật của chính họ, chứ không phải trong tiếng niệm Phật của đại chúng, nhờ vậy mà họ vãng sanh."
Đồng thời, trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 3), Phần Phụ Lục Cần Thiết (trang 210, 211 và 214), những lời khai thị lúc lâm bệnh cũng hướng dẫn người bệnh chuyển sang niệm bốn chữ, lắng tai nghe và khởi niệm thầm theo:
"Đời người ở thế gian đều không tránh khỏi cái khổ của bệnh dịch và chết. Khi những thứ khổ đó xuất hiện, duy chỉ có buông xả vạn duyên, nhất tâm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Nếu thấy bị quá mệt, gần tắt thở, thì chỉ niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”, nhất tâm cầu Phật từ bi tiếp dẫn quí vị vãng sanh Tây Phương."
"Giả như quí vị có thể niệm Phật ra tiếng thì niệm nhỏ tiếng, không niệm ra tiếng được thì niệm thầm trong tâm, tai nghe người khác niệm trong lòng niệm theo. Mắt nhìn hình tượng Phật A Di Đà, trong tâm nghĩ đến Phật A Di Đà. Khi vừa thấy có một ý nghĩ nào khác khởi lên liền phải tự trách: “Ta muốn nương nhờ Phật lực vãng sanh sao lại suy nghĩ lung tung, tự làm hỏng đại sự của mình?”."
"Hôm nay theo lời dạy, chúng tôi đến đây cùng gia quyến giúp đạo hữu niệm Phật để được sanh về cõi Cực Lạc an vui. Điều cốt yếu là đạo hữu nghe rõ chúng tôi niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” rồi trong tâm cũng khởi niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” theo, rõ ràng từng chữ, từng câu, tất cả tâm ý đều đặt vào câu “Nam Mô A Di Đà Phật”."
Thậm chí, tại Lá Thư Số 55: Phải giữ hạnh “Khiêm Cung”! trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 3) (trang 93), Thầy còn nhắc lại lời dạy của Hòa thượng Tịnh Không về trường hợp người lâm chung sức quá yếu chỉ mấp máy môi khi thấy Phật hiện tiền tiếp dẫn:
"Có một câu hỏi tương tự như vậy đến ngài Tịnh Không là: “Làm sao biết được chắc chắn vãng sanh?”. Ngài trả lời rằng, chính người đó thấy được Phật tới tiếp dẫn và nói cho mọi người biết. Tuy nhiên có lúc nói được, có lúc vì sức quá yếu họ nói không được. Họ mấp máy môi rồi ra đi, mình tưởng là họ niệm Phật, nhưng thật sự là họ báo cho mình biết rằng Phật tới tiếp dẫn họ đó. Trong kinh nói, người tạo tội ác thâm trọng, lúc lâm chung gặp được thiện tri thức khuyên giải, phát lòng tin tưởng sám hối cầu sanh Tịnh Độ, niệm Phật một tiếng, mười tiếng đều được vãng sanh. Thật sự bất khả tư nghì!"
Khi người bệnh không đủ sức phát ra tiếng nhưng vẫn còn có thể cử động nhẹ nơi môi, trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2), Lá Thư Số 26: Cứu người như cứu lửa! (trang 19), Thầy hướng dẫn người bệnh nên cố gắng nhép môi nhẹ theo tiếng niệm Phật để giữ sự tỉnh giác:
"Muốn tránh tình trạng này cũng không khó, cứ một lòng niệm Phật thì được. Em thành tâm khuyên anh chị Hai, chị Chương, ngay sau khi đọc xong thư này hãy thay phiên nhau gần kề với bác, khuyên bác niệm Phật và mình tiếp sức niệm phụ. Bác niệm ra tiếng không được thì niệm thầm, khuyên bác cứ một lòng tưởng Phật A Di Đà, cầu Phật A Di Đà gia trì tiếp dẫn thì tự nhiên an lành vô sự. Điều quan trọng là nên cố gắng nhép môi nhẹ theo tiếng niệm để cho tỉnh, đừng nên nằm im lìm niệm thầm sẽ dễ bị buồn ngủ, dễ quên, thành ra hôn mê."
Ý nghĩa của việc nhép môi nhẹ tiếp tục được Thầy giải thích rõ trong Lá Thư Số 27: An Lạc và Hiếu Nghĩa! (trang 37) và Lá Thư Số 29: Niệm Phật: Con đường cứu mẹ! (trang 54) của sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2):
"3) Mỗi lần tới thăm, thay vì nói: “cháu tới thăm Nội”, hãy nói là: “Cháu tới niệm Phật với Nội đây”. Hãy chuyển chữ “Thăm” thành chữ “Niệm Phật” để nhắc nhở Nội. Đó là hộ niệm. Vì người bệnh bị mệt mỏi thường lười biếng dễ ngủ lì, dễ buông xuôi, thì người chăm sóc cần nhắc nhở, khuyến khích niệm Phật luôn luôn. Đừng sợ mất ngủ, cố gắng niệm Phật cho tỉnh táo thì tốt hơn. Khuyến khích Nội nếu nhép môi niệm theo được thì tốt, còn không cứ niệm thầm trong tâm cũng tốt. Nhép môi là để vận dụng sức thì sức dễ hồi tỉnh, tâm dễ tỉnh lại hơn, thế thôi."
"Đừng để mất thời gian nữa. Bắt đầu niệm Nam Mô A Di Đà Phật ngay. Nếu khỏe thì niệm thành tiếng, không khoẻ thì niệm thầm trong tâm. Nên nhép môi theo tiếng niệm để tự thức tỉnh, tránh hôn trầm, tránh mê man bất tỉnh hay chìm trong ác mộng. Khi ngủ hãy niệm thầm cho đến khi thiếp luôn. Trong giấc ngủ nếu có mộng, dù dữ hay lành, nhất thiết đừng sợ cũng đừng mừng, cứ việc thành tâm niệm Phật. Chắc chắn mọi sự đều được qua khỏi. Nếu trong giấc ngủ niệm không được thì vừa thức giấc hãy niệm Phật liền. Làm được như vậy chắc chắn được chư Phật hộ niệm, mọi cảnh ma chướng đều phải lánh xa và cô được bảo vệ an toàn."
Trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 1), mục 13 - Lời khuyên song thân (trang 100), Thầy cũng căn dặn sự phối hợp nhịp nhàng giữa phần tự hộ của người bệnh và phần trợ niệm của người thân:
"Tóm lại những điều quan trọng của sự hộ niệm: Hộ Niệm có hai vấn đề: TỰ HỘ và HỘ NIỆM. Tự hộ là tự chính người lâm chung phải một lòng TIN TƯỞNG, phải tự niệm Phật, phải thành tâm cầu xin sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu còn khỏe thì niệm Phật ra tiếng theo với người Hộ Niệm, nếu yếu thì ráng cố gắng niệm thầm trong tâm. Ráng tối đa đừng để bị mê. Có như vậy thì sự Hộ Niệm sẽ thành công dễ dàng. Hộ Niệm: là người thân, người biết niệm Phật trợ giúp cho người đi giữ chánh niệm. Sự Hộ Niệm phải chân thành, thanh tịnh, tránh mọi sự ồn ào, tối kỵ con cái khóc kể, bi lụy trước mặt người ra đi, cấm người ngoài tới thăm hỏi. Nên niệm bốn chữ tốt hơn sáu chữ vì dễ niệm, dễ đạt được mười câu Phật hiệu liên tục trước phút ra đi. (Nhưng cái này cũng tùy thích của đương sự)."
Về phía gia đình và Ban Hộ Niệm, trong sách Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, mục Hộ Niệm Vấn Đáp 02: Những sơ xuất thông thường khi Hộ Niệm (trang 8), Thầy nghiêm khắc nhắc nhở không được lắc đầu hay ép buộc người bệnh đang kiệt sức phải mở miệng niệm theo:
"- Có nhiều khi người Hộ Niệm nhắc nhở mà có tính cách bắt buộc người bệnh phải niệm theo, cứ lắc đầu người bệnh, bắt họ phải mở miệng niệm theo, ép buộc họ phải mở mắt ra nhìn tượng Phật... đây cũng là điều không tốt. Nếu thấy người bệnh cứ ngủ hoài, thì lâu lâu cũng nên nhắc nhở họ cố gắng vùng lên kiên cường niệm Phật, vui vẻ khích tấn họ là điều tốt. Tuy nhiên, nhiều khi người bệnh quá mệt mỏi thì cũng cần cho họ nghỉ một chút, hoặc khuyên họ thầm niệm theo. Chú ý giúp họ giữ vững ý nguyện niệm Phật, chứ không thể bắt buộc họ được."
Tại Phần Phụ Lục Cần Thiết trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 3) (trang 206 và trang 208), tài liệu chỉ rõ khi sức lực người bệnh đã suy yếu thì sự luân phiên trợ niệm bốn chữ "A Di Đà Phật" của đại chúng giữ vai trò quyết định:
"b) Mọi người luân phiên nhau niệm Phật để giúp cho người bệnh được tịnh niệm. Tâm và sức lực của người bệnh lúc này rất yếu, khó có thể niệm liên tục lâu dài, giờ này hoàn toàn nhờ vào sự trợ niệm của người khác mới có thể niệm một cách đắc lực."
"4- Khai thị: - Nếu thần thức của bệnh nhân còn tỉnh táo, có thể do người phụ trách của ban hộ niệm khuyên họ buông xả vạn duyên để niệm theo tiếng Phật hiệu, hoặc niệm trong tâm, hoặc lắng tai nghe theo."
Lý giải vì sao lúc người bệnh suy kiệt cần chuyển sang niệm bốn chữ "A Di Đà Phật" rõ ràng từng tiếng thay vì niệm sáu chữ hoặc niệm nhừa nhựa theo âm điệu, trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 4), Tọa Đàm 177 (trang 162) và Giảng Ký (Quyển 2), Tọa Đàm 068 (trang 198, 205 – 206), Thầy phân giải rất cụ thể:
"Niệm “A Di Đà Phật” còn một điểm mạnh khác nữa, là khi một người đến giai đoạn lâm chung, sức khỏe yếu đuối, thân thể suy kiệt, rất nhiều người niệm 6 chữ không nổi. Có hộ niệm rồi chúng ta mới thấy ra được vấn đề này, và đồng ý rằng, niệm “A Di Đà Phật” có nhiều ưu điểm hơn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”."
"Cho nên niệm “A Di Đà Phật” vừa ngắn gọn, vừa đầy đủ ý nghĩa của danh hiệu, vừa hợp với sức của người sắp xả bỏ báo thân, giúp họ dễ được vãng sanh hơn."
"Còn ở trước người bệnh, chúng ta hộ niệm thì nên niệm ra tiếng và niệm rõ ràng để người bệnh nghe mà niệm theo, đừng nên niệm thầm, niệm nhừa nhựa. Niệm “A.. Di.. Đà.. Phật..” rõ ràng từng tiếng là tốt nhất. Niệm theo âm điệu cũng không hay lắm, chỉ trừ trường hợp đặc biệt người bệnh thích niệm theo âm điệu. Ví dụ như ở đây trong thời khóa chúng ta niệm theo âm điệu 4 câu 4 chữ này, nhưng khi hộ niệm dùng âm điệu này cũng không phải là tối ưu đâu. Niệm “A.. Di.. Đà.. Phật..” rõ ràng là hay nhất. Xin nhớ, là nhiều lúc người bệnh quá mệt, niệm theo âm điệu thì âm thanh trầm bỗng không được rõ ràng, tiếng “A.. Di.. Đà.. Phật..” có thể biến thành một âm thanh khác, làm cho người bệnh khó có thể nhiếp tâm. Nói tóm lại, đối với người bệnh đang bị mệt mỏi, tiếng niệm nhừa nhựa theo âm điệu không được tốt lắm. Nên niệm nguyên chất từng tiếng rõ ràng thì tốt hơn."
"Đến lúc lâm chung niệm 4 chữ “A.. Di.. Đà.. Phật” sẽ vững vàng hơn. Nhiều người đến giai đoạn lâm chung, mệt quá, nhiều khi 4 chữ “A Di Đà Phật” mà niệm không nổi, đừng nói chi đến 6 chữ. Nhiều người quen niệm 6 chữ, đến lúc sắp ra đi, 6 chữ hồng danh phải chia làm 3 đoạn để niệm: “Nam Mô.... (thở hề... hề... hề...), A Di... (thở hề... hề... hề...)... ”, rồi quên mất tiếng “Đà Phật…”!... Vì thế, niệm được 4 chữ rất tốt, ngắn gọn, dễ niệm, dễ nhiếp tâm, cảm ứng mạnh."
Đặc biệt, khi người bệnh bước vào cơn hấp hối khó thở, tại mục Hộ Niệm Vấn Đáp 20 trong sách Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (trang 68) và Câu 24 thuộc Chương 6: Hướng Dẫn - Khai Thị trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm) (trang 119 – 120) với câu hỏi gốc "Hộ niệm khi người bệnh đang hấp hối:", Thầy chỉ dẫn cách niệm lớn tiếng, rõ ràng theo nhịp thở để tiếp sức cho người bệnh:
"Đang hấp hối thì không nên xoa bóp hay vuốt ve nữa, mà nên khai thị, nhắc nhở Niệm Phật và tất cả đều thành tâm niệm lớn câu Phật hiệu để hộ sức cho người đó niệm theo."
"- Tất cả mọi người nên niệm lớn tiếng một chút, niệm thật rõ ràng, niệm từng tiếng, có thể niệm theo hơi thở, để hỗ trợ cho người bệnh niệm theo."
"a) Phải niệm đều đều bình thường theo âm giai ngũ âm hoặc âm giai tứ âm. [✗ Sai]"
"b) Niệm nguyên chất 4 chữ theo hơi thở của người lâm chung từng tiếng chậm, mạnh và rõ ràng, thở một hơi niệm “A…”, thở hơi nữa niệm “Di…”, v.v… [✓ Đúng]"
"c) Nếu hơi thở quá chậm, một chu kỳ thở ra hít vào ta niệm trọn “A… Di… Đà… Phật”, cần niệm mạnh và rõ ràng. [✓ Đúng]"
"d) Nếu trước đó người bệnh yêu cầu niệm sáu chữ thì hãy niệm nguyên chất sáu chữ rõ ràng. [✓ Đúng]"
"e) Cần niệm nhẹ nhàng và nhỏ tiếng để tránh người bệnh nhức đầu. [✗ Sai]"
"f) Nên niệm rõ ràng và mạnh hơn bình thường để trợ lực cho người ra đi. [✓ Đúng]"
"g) Khuyên con cháu, thân nhân trong gia đình đồng lạy Phật, cầu Phật phóng quang tiếp độ. [✓ Đúng]"
"h) Chia phiên hộ niệm liên tục 24/24, không được rời. [✓ Đúng]"
Khép lại phương pháp hộ trì người bệnh yếu sức, tại Lá Thư Số 26: Cứu người như cứu lửa! thuộc sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2) (trang 21), Thầy dặn dò cách rỉ tai khích lệ thật ngắn gọn để giữ trọn chánh niệm cho người thân:
"Quyết lòng hộ niệm, mọi người phải thành tâm chắp tay niệm “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật…” đều đều và nhịp nhàng, không quá nhanh hoặc quá chậm, không được niệm tự do. Tất cả cùng khẩn cầu Phật A Di Đà đến tiếp dẫn. Khuyên người bệnh cố gắng nhép môi niệm theo. Nếu người bệnh quá yếu thì một người thân nhứt lâu lâu rỉ vào tai khuyên, ví dụ: “ Má niệm Phật, một lòng cầu về Tây Phương. Đừng nghĩ chuyện gì khác! Đừng sợ gì cả, có chúng con bảo vệ đây, v.v...”. Nên nhớ, nếu thấy cần thiết mới khuyên một câu, đừng khuyên nhiều quá làm loạn tâm."
"19 - Lời khuyên song thân"
"12 - Lời khuyên song thân"
"13 - Lời khuyên song thân"
"Lá Thư Số 26: Cứu người như cứu lửa!"
"Lá Thư Số 26: Cứu người như cứu lửa!"
"Lá Thư Số 27: An Lạc và Hiếu Nghĩa!"
"Lá Thư Số 29: Niệm Phật: Con đường cứu mẹ!"
"Lá Thư Số 55: Phải giữ hạnh “Khiêm Cung”!"
"Phần Phụ Lục Cần Thiết: Những Khai Thị Quan Trọng Liên Quan Đến Sự Hộ Niệm"
"Tọa Đàm 018: Hộ Niệm Không Phải Cầu Chết Sớm, Hạnh Tự Tại Bệnh Khổ & Chớ Bám Víu Lúc Lâm Chung"
"Tọa Đàm 068: Cách Niệm Phật Trong Buổi Hộ Niệm Như Thế Nào? (Câu 32a, 32b, 32c, 32d)"
"Tọa Đàm 177: Niệm Bốn Chữ Hay Sáu Chữ, Dứt Bặt Năng Sở & Khôi Phục Tự Tánh Di Đà (Câu 4uu – 4xx)"
"Hộ Niệm Vấn Đáp 02: Những sơ xuất thông thường khi Hộ Niệm"
"Hộ Niệm Vấn Đáp 20: Thêm kinh nghiệm Hộ-Niệm!"
"Câu 24 (Trang 119 – 120)"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →