Về vấn đề người bệnh ôm lòng oán hận không chịu nhắm mắt và phương pháp mở gút thắt tâm thức để buông xả niệm Phật vãng sanh, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, trang 92, 177 và 337; Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký, Quyển 1, Tọa Đàm 041, trang 381 và Quyển 2, Tọa Đàm 065, trang 167; Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Trắc Nghiệm, Phụ lục II, trang 195; Khuyên Người Niệm Phật Tập 4, Lá Thư Số 68, trang 47).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong sách Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (Phần 1, trang 92), Thầy chỉ rõ quan niệm sai lầm phổ biến khi người bệnh chấp trước đòi gặp đủ người thân mới chịu nhắm mắt:
"Muốn Hộ Niệm cho người khác được Vãng Sanh, thì chính chúng ta phải tìm hiểu cho thấu đáo phương pháp Hộ Niệm. Lý luận, phương thức, cách khai thị Hộ Niệm phải nắm vững. Nếu chính mình không hiểu gì về Hộ Niệm, thì lo lắng đến chuyện Hộ Niệm ngày mình lâm chung có ích lợi gì? Không biết về Hộ Niệm thì cứ nghĩ rằng, trước khi chết phải có đầy đủ con cháu tới để nhìn mặt, thiếu một đứa thì chết không chịu nhắm mắt. Chúng tới bao vây mình rồi, lại xúi cho khóc lóc, kể lể, than vãn, ôm nắm, lôi kéo... Đây là cái duyên đại đọa lạc, đâu phải là điều tốt!"
Tại trang 93, Thầy nhắc nhở người tu phải tập buông xả để vượt qua những chướng duyên trói buộc:
"Người thường bận tâm lo lắng không an nhiên bằng người ít lo. Càng lo lắng càng bất an. Tại sao không cố gắng Niệm Phật, cố gắng tu hành, biết mình bị nhiều chướng duyên thì cố gắng công phu nhiều hơn, há không hay hơn sao? Biến nghịch duyên thành thuận duyên. Nhìn thấy sự khó khăn mà lo tu hành tốt hơn vậy. Tự mình phải lo liệu cho mình, chứ có cách nào khác hơn! Tập buông xả cho nhiều... mới tránh được những vướng mắc."
Trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm), tại Phụ lục II (trang 195 – 196), khi giải đáp thắc mắc: "Người khai thị giải quyết thế nào khi người bệnh nói là tôi niệm Phật ít quá không đủ công đức, lại tội chướng nhiều không biết có được vãng sanh không?", Thầy nhấn mạnh yếu tố quyết định của Tín Nguyện và sự nguy hại khôn lường của tập khí thù hận:
"Bác phải tin tưởng vững vàng mới được vãng sanh. Vì sao? Vì Ngài Ngẫu Ích dạy rằng: “Được vãng sanh hay không hoàn toàn do Tín và Nguyện, phẩm vị cao thấp là do trì danh sâu hay cạn; dẫu cho niệm Phật loạn tâm cũng được vãng sanh”. Niệm Phật nhiều hay ít chỉ ảnh hưởng phẩm vị cao thấp thôi. Thế thì Bác còn gì mà nghi ngờ nữa chứ! Vậy thì Bác biết mình cần làm những gì rồi phải không? Phải buông, trong tâm rỗng rang niệm Phật cầu sanh TPCL thì ai ai cũng được vãng sanh. Chắc chắn và nhất định như vậy."
"Còn nghiệp chướng Bác đừng để tâm tới, vì sao?... Vì pháp môn này là mang cái nghiệp để đi vãng sanh chứ không phải diệt nghiệp chứng đắc, nhưng Bác nên chú ý là Phật chỉ cho Bác mang theo nghiệp cũ chứ không mang theo cái tập khí thị phi, đố kỵ, ganh ghét, thù hận, tham sống, sợ chết, sợ bệnh, lo lắng cái nhà, tài sản, con cái… Nếu Bác còn dính mắc những thứ này thì hãy buông xuống liền mà niệm A Di Đà Phật cầu về TPCL thì việc vãng sanh mới an toàn được. Chúng con luôn yểm trợ cho Bác để thêm phần chắc chắn. Dũng mãnh tin tưởng lên nghen Bác."
Trong sách Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (Phần 2, trang 177), Thầy căn dặn người tu về đức tính tha thứ và phớt lờ những nghịch cảnh chướng tai gai mắt:
"Người tu hành tuyệt đối đừng bao giờ ganh người này, ghét người nọ, đừng vì những lỗi lầm của người khác mà để tâm giận hờn, thù hằn, gây sự bất hòa với nhau, không tốt về sau. Nên ăn ở hiền lành, sống vui vẻ, những sự chướng tai gai mắt nên tập tánh phớt lờ, đừng để trong tâm. Tập tha thứ cho nhau, đừng nên chê trách, hay bắt lỗi người này người nọ. Gặp người giỏi nên thành tâm khen ngợi, đừng thấy họ giỏi mà đố kỵ, gặp người đố kỵ thì tảng lờ đi. Người dễ chịu thì làm thân, người khó chịu nếu mình không đủ sức chuyển hóa thì lặng lẽ đứng xa một chút là được. Tập như vậy để chính mình tránh được nhiều chướng nạn về sau."
Phân tích trường hợp người bệnh nuôi dưỡng hận thù không giải tỏa được tại trang 178, Thầy giải thích rõ diễn biến tâm thức dẫn đến loạn tâm và bị oan gia sai khiến:
"Ban đầu có thể từ một sự thất bại, bị lường gạt, bị bức xúc nào đó mà không có ai giải tỏa được, nỗi uất hận đó cứ giữ mãi trong tâm, càng ngày càng lớn, lâu dần những uẩn khúc trong tâm thức hiện ra giống như có thực. Sống trong cảnh giới thù hận, tức bực, khó chịu, căng thẳng quá lâu, đến một giai đoạn chịu đựng không nổi, mới bùng vỡ ra làm cho tâm trí mất thăng bằng, mất bình thường. Dựa vào trạng thái đó, oan gia trái chủ nhập vào điều khiển, chế ngự, sai khiến làm sai, nghĩ sai làm cho đầu óc càng ngày càng rối mù."
"Phật dạy, tất cả đều do tâm tạo. Tạo cảnh giới nào, chịu cảnh giới đó. Sống trong cảnh giới khó chịu, oai bức, bực dọc, chửi bới nhau, kình cãi nhau, đố kỵ nhau, hiềm thù nhau, nếu nhẹ thì mặt mày cau có; Nếu nặng thì đánh lộn, chém giết nhau; Nặng hơn hơn nữa thì tâm trí mất thăng bằng, không tự kiểm soát được!... Nếu quả đúng như vậy, lúc mới đầu gia đình tìm phương an ủi, khuyên giải, tạo môi trường vui vẻ thoải mái thì Cụ được khôi phục lại bình thường không khó lắm!"
Trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), tại Tọa Đàm 065 (trang 173), Thầy nhắc nhở nguyên tắc thực tế khi hộ niệm và sự cần thiết của việc giúp người bệnh tự hóa giải vướng mắc:
"Xin chư vị chú ý cho, chân đi dưới đất thì phải tìm cách gỡ những mối rối ở dưới đất, cớ sao lại cứ muốn gỡ những sự rối loạn trên mây, để hỏng chân hỏng cẳng, hỏng hết tất cả những căn bản tu hành, mà chung cuộc đành phải thọ lãnh ách nạn đớn đau vậy?!..."
"Ban hộ niệm cần người bệnh tỉnh táo, cần thời gian để hướng dẫn hầu giúp họ tự hóa gỡ những vướng mắc mà niệm Phật vãng sanh, chứ ban hộ niệm không có thần thông đạo lực gì để cứu vực được một người đang bị sa lầy quá nặng trong ách nạn của nghiệp chướng đâu nhé. Nhất định phải vững qui luật mới giúp cho một người được vãng sanh, còn không chú ý về qui luật hộ niệm, sẽ không cách nào có thể cứu người được đâu."
Hướng dẫn phương pháp an ủi tâm lý và giải tỏa chướng nạn tại trang 170, Thầy chỉ dạy ban hộ niệm cần đi thẳng vào những việc cụ thể, thiết thực:
"Để hóa giải cho người bệnh chúng ta cũng cần phải có chút ít tâm lý, tránh cho người bệnh lo sợ. Hãy đến sát bên người bệnh nhắc nhở họ lo niệm Phật, đừng để ý đến những cảnh giới đó. Hãy nói với người bệnh rằng, những hiện tượng đó chỉ là giả huyễn, vì quá mệt mỏi, không còn tỉnh thức nữa, nên thường thấy những điều mơ hồ hư dối đó thôi. Khuyên người bệnh phát lồ sám hối tội chướng, rồi nhắc nhở họ nên yên tâm vì luôn luôn có người hộ niệm ở bên cạnh giúp đỡ và thành tâm điều giải đây."
"Hãy đi thẳng vào những vấn đề cụ thể thiết thực để hóa giải chướng nạn, thì mới thực tế giúp ích lẫn nhau, hóa giải cho nhau thoát khỏi những cạm bẫy hiểm nghèo, hay hơn là cứ đem những lý luận siêu huyền, cao chót vót trên mây mà phô diễn trước một người bệnh đang nhức đầu như búa bổ, đang đối diện với những cảnh khó khăn đau khổ. Rõ ràng, với hàng phàm phu này, lúc tỉnh táo chưa chắc gì có thể hiểu thấu đạo lý nhiệm mầu, thì lúc mê mê muội muội làm sao hiểu được? Vì thế, chúng ta cần làm những gì cụ thể, thiết thực, có căn bản để cứu giúp nhau là tốt nhất."
Trong sách Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (Phần 2, trang 337), khi hướng dẫn một đồng tu bị vướng mắc tâm lý bức xúc, Thầy chỉ dạy cách tùy duyên sống và buông xả quá khứ:
"Chú thấy vấn đề của Kiệt hình như nó xoay quanh cái tâm trạng bức xúc của cháu mà sanh ra thôi. Nếu bây giờ cháu nghe lời chú, hãy mạnh dạn coi vạn sự như không đi, tất cả đều có nhân quả của nó, thì tốt nhất cháu phải biết tùy duyên để sống, có tùy duyên được thì tâm hồn sẽ tự tại, tâm hồn tự tại thì những phiền não trói buộc mình xưa nay sẽ tự nhiên tan biến."
"Đã thoát rồi thì thoát luôn đi. Kéo giữ nó lại làm chi? Làm sao thoát? Tất cả những kinh nghiệm trong quá khứ giúp cho cháu kiên cường, sáng suốt, vững lòng tin để đi tới tương lai. Kéo giữ nó lại tức là chính mình muốn vấn đề nặng nề hơn. Dại gì lại chịu khổ vậy?"
Tại trang 338, Thầy ví tâm thức như tấm gương bị bụi bám và khuyên buông bỏ những việc không thuộc bổn phận của mình:
"Chú không có hay giỏi gì để giải quyết rốt ráo vấn đề của Kiệt. Nhưng chú nghĩ rằng, chính Kiệt phải tự cứu mình. Nếu ngày ngày cứ nghĩ lẩn quẩn mãi những chuyện không đâu, thì không còn cách cứu chữa. Nếu mạnh dạn liệng hết tất cả những cái lẩn quẩn đi, thì tự nhiên sẽ trong sáng. Tâm mình giống như tấm gương bị bụi bám, đừng sợ đừng chán nó, hãy lấy tấm khăn lau sạch bụi bặm đi, thì tấm gương tức khắc trong sáng."
"Bỏ cái gì? Tổng quát, hôm nay chú muốn khuyên rằng, Kiệt đừng nên lăn xả vào những chuyện không phải của mình, đừng nhúng tay giải quyết những gì không thuộc về mình nữa, thì tự nhiên cơn bệnh của Kiệt giảm đi một nửa rồi đó."
Tiếp tục tại trang 339, Thầy phân biệt rạch ròi giữa người biết chuyển cảnh và người bị cảnh chuyển, thấu suốt bản chất nợ nần ân oán trong cõi nhân gian để buông sạch vọng tâm:
"Người biết tu là người chuyển cảnh. Người không biết tu là người bị cảnh chuyển. Chuyển cảnh là sao? Gia đình có chuyện buồn, nhưng riêng mình không thèm buồn. Thiên hạ tranh chấp nhưng mình không tranh chấp. Xã hội bất công nhưng mình không thèm bất công. Nghĩa là, phải biết coi vạn sự là vô thường, như trò đùa. Có chi phải chen vào mà tự mình bị ảnh hưởng."
"Cha mẹ, anh em, người thân, bạn bè, v.v... trong đời này, tất cả đều có duyên có phận, đền ân, trả oán, đòi nợ, trả nợ. Tất cả đều có số phần."
"Vậy thì bỏ đi là xong. Bỏ cái gì? Theo lần lượt kể trong thư mà bỏ. Tất cả 26 tiết mục đưa ra trong thư toàn là giả vọng hết. Bỏ hết đi là xong. Chỉ vì vọng tâm mà sinh ra như vậy. Hoàn toàn không thực đâu."
Trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 1), tại Tọa Đàm 041 (trang 381), Thầy nhấn mạnh tinh thần điều giải bằng tâm từ bi hòa bình, không dùng sức mạnh áp chế:
"Trong Pháp Hộ Niệm các Ngài dạy chúng ta phương pháp điều giải oan gia trái chủ. Điều giải chứ không phải chế ngự, không phải là đấu tranh. Nếu chế ngự hay đàn áp họ, thì chúng ta gây thù oán với chúng sanh trong pháp giới. Điều này không tốt, không đúng với chánh pháp. Hộ Niệm không bao giờ được áp dụng phương thức lấy sức mạnh để thắng cuộc, mà phải dùng tâm từ bi, hòa bình, thông cảm cứu giúp nhau để điều giải, làm cho họ thoải mái, vui vẻ, đừng tạo nghiệp nữa."
"Vì thế, khi đối diện với nạn oán thân trái chủ, người tu hành phải tìm cách điều giải, tự mình sám hối những sai trái của chính mình, làm việc thiện phước hồi hướng công đức cho họ, thành tâm khuyên nhủ họ tìm cách thoát vòng sanh tử luân hồi đi, thoát cảnh đọa lạc đau khổ bằng cách niệm câu A Di Đà Phật, cầu Phật tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc, hay hơn là tiếp tục ở đây chấp trước, hận thù nhau để chịu nạn. Đó mới là chánh pháp, đó mới là an toàn."
Chỉ rõ gốc rễ Ma hay Phật đều khởi nguồn từ tâm thức tại trang 382, Thầy cảnh báo về kết cục của việc ôm giữ thù hận khi trút hơi thở cuối cùng:
"Chư vị nên hiểu cho điều này, Phật Ma, Ma Phật là ở tại tâm của mình. Một cái tâm thù hằn, ganh ghét, đố kị, tham lam, thượng mạn, v.v… thì tâm đó là Ma. Một cái tâm từ bi, hỉ xả, thương yêu, giúp ích phục vụ chúng sanh, v.v… là tâm Bồ Tát. Một cái tâm niệm Phật trở về Tây Phương, thì tất cả chúng sanh đều có thể vãng sanh bất thoái thành Phật. Điều quan trọng là chúng sanh có chịu giác ngộ hay không mà thôi."
"Cũng là người mẹ đó, nhưng mê mờ không chịu niệm Phật, thương con nhớ cháu, thương nhà tiếc của, ganh ghét tị hiềm, khi chết đi tâm còn chấp vào những mối thù hằn không buông được, linh hồn mới biến thành những loài ma quỉ để tìm cách hại người. Hại người chưa được mà tự mình hại lấy mình trong cảnh đọa lạc thê lương. Ma Phật, Phật Ma cũng là người mẹ của mình hết. Chính vì thế xin thưa với chư vị, giác ngộ thành Phật, không giác ngộ thành Ma. Như vậy, Ma hay Phật, Phật hay Ma chỉ là Mê và Ngộ mà thôi."
Trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 4), tại Lá Thư Số 68 (trang 58), Thầy giải thích rõ nghĩa lý thâm sâu của pháp môn phóng hạ buông xả:
"Cho nên, tu phải biết ' Phóng Hạ '. Phóng hạ có nghĩa là buông xả. Muốn thoát nạn phải tập buông xả cho nhiều, buông xả thì tâm hồn mới thoải mái, tự tại. Người lo lắng hết chuyện này đến chuyện khác là vì lòng trần còn quá nặng. Người ưa chê khen là vì còn phân biệt chấp trước. Người còn chống báng đố kỵ là vì tâm tính hẹp hòi, v.v.... Tất cả những thứ này sẽ phá tiêu tan tâm đạo, dù hình thức tu hành có như thế nào đi nữa, thì cuối cùng cũng sẽ thất bại, không bằng những người ít tu nhưng hiền lành chất phác."
Nhắc nhở người niệm Phật không được giữ lại giận hờn làm tổn hại công đức, Thầy chỉ dạy thái độ buông nghiệp để việc niệm Phật được viên mãn:
"Buông xả khó lắm chứ không dễ, nhưng đã học Phật thì phải tập bỏ dần. Trước đây bị người chửi mình tức giận, nay không thèm giận nữa, vì giận sẽ tự đốt hết công đức của mình. Hôm qua bị nói xấu ta buồn, nay được ai nói xấu thì vui lên, vì người đến gỡ nghiệp giùm ta. Người biết tu thì buông nghiệp ra, giữ lấy công đức. Người không biết tu thì thích buông công đức ra, giữ lại nghiệp chướng. Không chịu buông xả nghiệp chướng ra thì sẽ bị mắc kẹt. Kẹt tiền, tình, nhơn, nghĩa; kẹt danh, lợi, thị, phi; kẹt con cháu, nhà cửa; kẹt tham, sân, si, mạn, v.v.... nói chung, còn kẹt đủ thứ, thì làm sao tu hành cho vô! Niệm Phật cũng chỉ vô ích thôi!"
"Mở gút lần lần! (Tùy duyên sống để phiền não tan biến)"
"Mở gút lần lần! (Lau sạch bụi bặm trên gương tâm)"
"Mở gút lần lần! (Coi vạn sự vô thường như trò đùa, thấu suốt nợ duyên)"
"Giải Quyết Vấn Đề Về Loạn Tâm: Oán Thân Trái Chủ Và Phương Pháp Cứu Gỡ (Tập tha thứ)"
"Giải Quyết Vấn Đề Về Loạn Tâm: Oán Thân Trái Chủ Và Phương Pháp Cứu Gỡ (Ôm uất hận phát cuồng)"
"Hộ Niệm Vấn Đáp 25: Nghịch duyên hay thuận duyên, đều do mình! (Chết không nhắm mắt)"
"Hộ Niệm Vấn Đáp 25: Nghịch duyên hay thuận duyên, đều do mình! (Tập buông xả cho nhiều)"
"Tọa Đàm 065: Gỡ mối rối dưới đất & Ban hộ niệm cần người bệnh tự hóa gỡ"
"Tọa Đàm 065: Dùng tâm lý an ủi, sám hối & Đi thẳng vào việc cụ thể thiết thực"
"Tọa Đàm 041: Điều giải bằng tâm từ bi, khuyên buông hận thù niệm Phật vãng sanh"
"Tọa Đàm 041: Ma Phật tại tâm, tâm ôm hận thù không buông biến thành ma quỷ"
"Phụ lục II (Phần 2): Khai thị mẫu hóa giải nghi vấn tâm linh (Được vãng sanh do Tín Nguyện)"
"Phụ lục II (Phần 2): Khai thị mẫu hóa giải nghi vấn tâm linh (Không cho mang theo tập khí thù hận)"
"Lá Thư Số 68: Pháp môn phóng hạ & Buông xả nghiệp chướng không giận hờn"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →