Về vấn đề mùi hương lạ thơm ngát tỏa ra trong phòng hộ niệm có ý nghĩa gì, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Khuyên Người Niệm Phật Tập 2, Lá Thư 38, 44, trang 129, 182; Khuyên Người Niệm Phật Tập 4, Lá Thư 72, trang 93; Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, trang 182; Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký Quyển 1, 3, 4, Tọa Đàm 032, 107, 179; Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Phần Trắc Nghiệm, Câu 14, trang 17).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Giải thích về nguồn gốc những hiện tượng vi diệu xuất hiện trong giờ phút lâm chung của người niệm Phật, trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2) tại Lá Thư Số 44, Thầy khai mở (trang 186):
"Thân trung ấm có màu sắc, đôi khi mắt thường chúng ta có thể thấy được. Ví dụ, những người niệm Phật vãng sanh Tây Phương Cực Lạc lúc lâm chung thường có phát ra ánh sáng, đó có thể là ánh sáng của thần thức thoát ra khỏi thân xác để vãng sanh. Những người vãng sanh phẩm vị cao, có nhiều chư Thiên đến tiễn, chư Thánh Chúng, chư Bồ Tát ở cõi Tây Phương đến tiếp dẫn. Thân của quý Ngài đều có ánh sáng, có hương thơm, cho nên người ta mới ngửi được mùi hương và thấy ánh sáng rất tỏ là vậy. Những người tu hành tốt, ăn ở hiền lành thì nghiệp của họ nhẹ, thần thức của họ tỉnh táo, trong sạch, ánh sáng sẽ trong trắng và sáng tỏ."
Trong tập sách , khi luận giải về sự cảm ứng tương giao giữa đạo tràng hộ niệm và mười phương chư Phật, Thầy giảng rõ về hai nguyên lý Hiển Cảm và Hiển Ứng (trang 186):
"Đồng lòng, đồng nguyện, đồng hạnh như vậy, gọi là "Hiển Cảm". Những buổi Hộ Niệm có khai thị, có hướng dẫn, có nhiếp tâm Niệm Phật, v.v... tất cả mọi người đều chí thành khẩn thiết, thì đây gọi là Hiển Cảm. Có hiển cảm thì rất dễ được "Hiển Ứng". Hiển Ứng là sự gia trì của Phật Bồ Tát hiển hiện rõ rệt, ai cũng có thể thấy được."
"Có nhiều người Vãng Sanh, trong ngày Vãng Sanh có nhiều hoa đồng loạt nở rộ ra, ví dụ như: Cụ Lai Thị Mãnh, cụ Trịnh Kim Tuấn, cụ Nguyễn Minh Công... Có người được chim tụ về (cụ Trịnh kim Tuấn). Có người có hương thơm, có ánh sáng, có ánh rán vàng trên không trung, nước uống tự nhiên biến vị thành ngọt ngào, v.v... Nhiều lắm. Sự hiển ứng xuất hiện bất khả tư nghì, kể không hết..."
Trước sự xuất hiện của các thoại tướng lạ, trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 3) tại Tọa Đàm 107, Thầy tha thiết nhắc nhở ban hộ niệm không được nhầm lẫn giữa tướng lành phước báu và điều kiện vãng sanh (trang 47):
"Hơn nữa, xin nhớ cho, biết trước ngày giờ ra đi chưa chắc gì được vãng sanh. Không đau, không bệnh, an nhàn ra đi chưa chắc gì được vãng sanh. Ra đi để lại xá lợi chưa chắc gì là được vãng sanh. Ra đi có mùi hương bay thơm thoang thoảng chưa chắc gì được vãng sanh… Nên nhớ cho kỹ điều này. Ở phần trước chúng ta đã nói vãng sanh là gì, yếu tố nào đưa chúng ta vãng sanh, còn những hiện tượng như không đau bệnh, biết ngày giờ ra đi không phải là điều kiện bảo đảm cho sự vãng sanh Tây Phương Cực Lạc."
"Như vậy những hiện tượng này nói lên điều gì? Tướng lành của người có phước. Không đau không bệnh là người có phước, biết được ngày giờ ra đi là người có phước. Nếu những người có phước báu này mà quyết tâm niệm Phật cầu nguyện vãng sanh, thực hiện được Tín Nguyện Hạnh đến giây phút cuối cùng, lại biết được ngày giờ ra đi nữa, thì sự vãng sanh mới càng thêm chắc chắn."
"Chắc chắn những người tạo phước nhiều đó nếu biết niệm Phật cầu vãng sanh, thì sự vãng sanh thường dễ dàng hơn người thiếu phước, tại vì khi ra đi không bị đau bệnh, không bị mê man bất tỉnh, không có nhiều chướng ngại cản ngăn, nên con đường vãng sanh của họ an toàn hơn, thuận duyên hơn, thoải mái hơn."
Để thấu suốt nguyên nhân vì sao người ra đi để lại thoại tướng tốt vẫn chưa chắc được vãng sanh Cực Lạc, trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm), đối với câu hỏi tổng: "Người ra đi với thoại tướng tốt, tại sao chưa chắc được vãng sanh TPCL?", Thầy xác định các mệnh đề chánh văn (trang 18):
"a) Người tu bố thí, làm thiện, ít tạo nghiệp ác… khi chết nếu để lại thoại tướng tốt thì họ theo nghiệp thiện mà sanh vào ba cảnh thiện để hưởng phước chứ không phải vãng sanh TPCL. [✓ Đúng]"
"b) Người suốt đời niệm Phật cầu sanh TPCL, lúc lâm chung vẫn niệm Phật nhưng lại quyến luyến thế gian, tưởng nhớ đến phước báu, v.v… quên mất tâm nguyện vãng sanh thì dù có thoại tướng tốt vẫn chỉ sanh vào ba cảnh thiện mà thôi. [✓ Đúng]"
"c) Người tu hành các pháp môn tự lực, nếu đạt được mức tu chứng tốt, ra đi có tướng lành thì có thể sinh vào những cảnh Trời tương ứng với mức chứng chứ không phải vãng sanh TPCL. [✓ Đúng]"
"d) Người tu hành phước lớn, nhưng nghiệp chưa sạch thì ra đi dù có thân tướng tốt cũng chỉ được sanh lên một cảnh giới lành để hưởng phước, chứ không phải vãng sanh TPCL. [✓ Đúng]"
"e) Chỉ có người niệm Phật tha thiết cầu sanh TPCL, giữ vững ý niệm này đến lúc buông bỏ báo thân, ra đi để lại thoại tướng tốt mới được vãng sanh TPCL. [✓ Đúng]"
Giảng giải sâu sắc về sự khác biệt giữa đường tu tự lực và tha lực cứu độ tại Tọa Đàm 032 thuộc Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 1), Thầy chỉ rõ (trang 295):
"Tại sao người ra đi có thoại tướng tốt chưa chắc được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc? Trang 18, câu trả lời 14(d): Người tu hành phước lớn nhưng nghiệp chưa sạch, thì ra đi dù có thân tướng tốt cũng chỉ được sanh lên một cảnh Trời để hưởng phước chứ không phải vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Đúng không chư vị? – [✓ Đúng]. Đây là nói về người tự lực tu chứng. Thường thường tự lực tu chứng người ta tu rất là tinh tấn, ý chí rất kiên cường, làm thiện làm lành nhiều lắm. Tu hành như vậy rất tốt, nhưng về phần nghiệp hoặc thì không dễ gì phá được. Xin thưa thẳng rằng, không dễ gì phá được nghiệp chướng đâu. Nhưng khi đã có sức tu nhiều, công phu lớn, đức hạnh cao, thì phước báu sẽ rất lớn. Phước báu lớn thì dễ theo đường phước đi về những cảnh giới lành thọ hưởng."
"Một người dẫu tu hành rất tốt, khi ra đi để lại thân tướng rất đẹp, có hương thơm, có xá lợi, nhiều khi biết được ngày giờ ra đi, nhưng không phải họ vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, tại vì họ không nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Đường tu của họ là tự lực tu chứng, chứng tới mức nào họ trở về một cảnh giới tương ứng với mức chứng đó, chứ không phải là vãng sanh Tịnh Độ. Nhưng nếu một người ra đi với thân tướng đẹp như vậy mà quá trình tu học của họ là quyết niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc, rồi trước những giây phút xả bỏ báo thân, họ vẫn quyết lòng niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc, thì với cái thân tướng đó thì ta tin tưởng vững vàng rằng đã vãng sanh."
Tuy không phải là thước đo bảo chứng tuyệt đối cho người thiếu Tín-Nguyện, song mùi hương lạ và ánh sáng nhiệm mầu xuất hiện trong ca hộ niệm lại mang công năng cảm hóa sâu sắc đối với những người chưa tin Phật pháp. Trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2) tại Lá Thư Số 38, Thầy dẫn chứng thực tế trường hợp người con rể của bác Dư Thị Ky (trang 132):
"Đến khi chính mắt chứng kiến cảnh vãng sanh của nhạc mẫu làm anh ta quá ngạc nhiên đến nỗi phải bàng hoàng, ngẩn ngơ. Nhờ cơ duyên này mà anh đã thực sự tỉnh ngộ. Anh Hải lại nói tiếp:"
"- Một tuần sau, cả gia đình cùng đi trong một chiếc xe đến chùa Phước Huệ để cầu siêu tuần thất thứ nhất. Đang lúc sắp tới chùa, vừa lúc có người nhắc đến công hạnh tu hành của mẹ, thì anh Kiên lại ngửi được mùi hương giống hệt như mùi hương lúc mẹ vãng sanh. Ảnh hỏi mọi người rằng có ai ngửi thấy không? Không có ai khác, chỉ một mình ảnh ngửi được rõ ràng có mùi hương!"
"Trong tháng giêng năm 2003, anh Kiên cùng với đại gia đình đã qui y Tam Bảo và được HT Tịnh Không cho pháp danh là Diệu Âm. Thật là một duyên lành đầy may mắn cho anh. Nghĩ lại, trên đời này còn biết bao nhiêu người chưa có được duyên may, vẫn mù mịt sống, bước chân càng đi càng lún sâu vào nơi hiểm nạn!"
Tiếp tục chia sẻ trường hợp vãng sanh bất khả tư nghì của bà Huỳnh Ngọc Tuyết năm 1996, Thầy nhấn mạnh diệu dụng của thoại tướng hương thơm trong việc gieo duyên hóa độ gia quyến (trang 132):
"Ví dụ như chuyện vãng sanh của bà Huỳnh Ngọc Tuyết năm 1996 cũng có một trường hợp điển hình tương tự khá hay. Bà Tuyết pháp danh là Diệu Âm, hằng ngày tới đạo tràng làm công quả, in kinh, sang băng pháp, tụng kinh Vô Lượng Thọ, rồi niệm Phật mà vãng sanh. Khi lâm chung gia đình điện thoại tới Ngài Tịnh Không xin ý kiến, từ trong điện thoại Ngài nói: “Tây Phương Tam Thánh đã đến trước cửa, sao không đi còn hỏi gì nữa?”. Khi bà vãng sanh có ánh sáng, có hương thơm phát ra cả tiếng đồng hồ. Trong gia đình của bà cũng có một người con rể không tin Phật, thường chống đối việc niệm Phật vãng sanh."
"Một hôm, trong những tháng ngày trước khi vãng sanh, bà kêu riêng người rể lại để cho anh ta biết một ngày đặc biệt nào đó, bà dặn anh ta phải nhớ cái ngày này, viết vào giấy, và cất giữ thật kỹ giùm cho bà. Sau khi vãng sanh, người con rể trực nhớ đến chuyện này, tìm mở ra xem thì giựt mình sửng sốt! Đó chính là ngày vãng sanh của bà nhạc mẫu. Một chuyện quan trọng như vậy mà bà lại âm thầm chỉ báo riêng cho một người rể không tin Phật!? Có thể nào chúng ta lại cho rằng đây chỉ là sự ngẫu nhiên? Thế nên mới biết, người tu hành phải có tâm từ bi, đặc biệt thương hại những người nhiều nghiệp chướng mà tìm phương cứu họ vậy."
Đối với người tham gia hộ niệm và người tu tập tịnh nghiệp, tâm lý tò mò tìm kiếm hay đắm chìm vào cảm ứng là cạm bẫy vô cùng nguy hiểm. Cảnh báo nghiêm khắc về điều này trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 4) tại Tọa Đàm 179, Thầy phân tích cội rễ của ma nạn (trang 171):
"Xin chư vị mở trang 72, câu (ccc): Người tâm tánh hiếu kỳ, thượng mạn, thích điều cảm ứng, ưa thần thông, tự cho mình đã chứng đắc hoặc có năng lực gì đặc biệt, thì rất dễ bị ma nhập. Đúng không chư vị? – [✓ Đúng]. Câu này rõ ràng là để trả lời cho câu mà hôm qua chúng ta đã bàn qua. Nhiều người nói rằng đi hộ niệm thường dễ bị ma nhập."
"Thực ra bị ma nhập, hiện tượng thần kinh bị phân liệt, đường đạo bị trở ngại… không phải là do tham gia hộ niệm hay ảnh hưởng của các pháp tu hành, mà chính là do tâm tánh hiếu kỳ, thượng mạn, thích điều cảm ứng, ưa thần thông, tự cho mình đã chứng đắc hoặc có năng lực gì đặc biệt."
"Người tâm tánh hiếu kỳ! Tất cả chư vị Tổ Sư, chư vị Cao Tăng chân chánh tu hành đều nhắc nhở chúng ta không được hiếu kỳ. Đừng bao giờ thấy điều gì hay hay lạ lạ liền chạy theo làm thử. Hành động này giống như con cá, đã biết đó là miếng mồi câu mà cũng nếm thử. Hiếu kỳ nếm thử thì kẹt lắm đấy!..."
"Người chân thật tu hành, chí thành chí kính niệm Phật rất dễ được cảm ứng với đại nguyện của Đức A Di Đà, đây là sự cảm ứng tự nhiên. Còn người ưa thích cảm ứng phát xuất từ sự vọng động, tánh hiếu kỳ thô tháo, chứ không phải từ lòng chân thật tu hành. Chư vị oán thân trái chủ sẽ lợi dụng cái tâm hiếu kỳ thô tháo này mà gạt vào những cái bẫy để bị vướng nạn. Chính vì vậy, người tu hành mà hiếu kỳ, thượng mạn, thích cảm ứng, ưa thần thông rất dễ bị hại."
Trong sách Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, Thầy nhắc lại lời Phật dạy trong kinh Kim Cang để hành giả phá trừ tâm chấp trước vào tướng trạng cảm ứng (trang 186):
"Phật dạy, "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng". Sự Cảm Ứng của mình khi chân thành thì linh hiển, chân chính. Ngược lại, khi tham đắm thì hư huyễn. Chân chánh (hay gọi là chân thật cũng được) hoặc hư huyễn nó biến đổi trong từng sát na. Sát na trước, lòng chí thành chí kính, sự Cảm Ứng là thật. Sát na sau, tâm vừa khởi niệm tự hào, vui mừng khấp khểnh, thì lập tức biến thành vọng rồi. Vọng là hư vọng, hư vọng vì tâm mình bị loạn. Rõ ràng từ một cảnh chơn biến thành cảnh vọng chỉ trong vòng một niệm."
"Còn người không có định tâm thì thường buồn vui bất chợt, thương ghét vô thường, lòng chân thành thanh tịnh ban đầu dễ biến thành tham chấp, hiếu kỳ, vọng cầu, v.v.... Sự biến chuyển này quá nhanh, quá tế vi, nhiều lúc chính họ không hay. Chính vì vậy, từ cái tâm chơn thành dễ biến thành tâm mê vọng! Những người tu hành trước thì có được nhiều Cảm Ứng khá tốt(!), nhưng sau lại chuyển thành không tốt, nguyên nhân chính là vì tâm còn lao chao quá, hiếu kỳ quá, chưa đủ sức định vậy."
Để bảo đảm ca hộ niệm trang nghiêm thanh tịnh và hộ trì người bệnh vãng sanh an toàn tuyệt đối, thái độ chuẩn mực của người hộ niệm là phải nhiếp trọn sáu căn nơi câu Phật hiệu, dẫu ngửi thấy mùi hương lạ hay thấy điềm lành cũng tuyệt đối không xao lãng. Trong Khuyên Người Niệm Phật (Tập 4) tại Lá Thư Số 72, Thầy răn dạy sâu sắc về quy tắc điều tâm (trang 101):
"Trong kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, Bồ Tát Đại Thế Chí dạy: Đóng hết sáu căn, thanh tịnh niệm Phật liên tục thì hiện tại hoặc tương nhất định sẽ thấy Phật. Có nhiều người nghe vậy cố gắng tập đóng sáu căn mà niệm Phật để thấy được Phật. Nhưng niệm hoài mà không thấy, đâm ra buồn bã! Thật ra, vẫn còn khá may mắn cho họ vì chưa được thấy, chứ nếu thấy được rồi thì có lẽ cũng đã gặp khá nhiều chướng nạn! Vì sao vậy? Vì hình tướng thì có niệm Phật, liên tục hay không chưa biết, nhưng sáu căn thì rõ ràng chưa đóng được căn nào cả. Mắt thì láo liên nhìn qua nhìn lại coi thử “Phật” đã tới chưa, miệng thì kêu réo liên hồi không chịu cho ai nghỉ ngơi, ý thì nghĩ tưởng lung tung chẳng biết đâu để định, vừa niệm Phật mà vừa ngửi ngửi thử coi có mùi hương lạ nào bay đến không, v.v… Vậy thì có đóng được gì đâu?"
"Đóng sáu căn không được thì tâm chưa tịnh. Tâm chưa tịnh tức là đang loạn động. Tâm loạn động là vọng tâm. Đã là vọng tâm thì làm sao đạt được cảnh giới tự đắc tâm khai để hiển lộ Chân tâm, để thấy Phật? Sáu căn không đóng tức là đang mở ngõ, đang vọng ngoại để đón chờ tà khí xâm nhập vào. Vậy mà tà khí chưa tới thăm, phải chăng cũng là điều còn quá may mắn! Cho nên, với lòng thành tâm, chúng tôi mong chư vị hãy mau mau tỉnh ngộ kịp thời để cứu lấy mình, đừng nên sơ ý nữa, đừng chờ cho tới lúc có điều bất tường xảy ra, lúc đó có ân hận thì cũng hơi muộn rồi vậy."
Và trong Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, Thầy tổng hợp tâm thái tự tại, như như bất động của bậc chân thật tu hành trước mọi cảnh duyên (trang 186):
"Người giữ tâm thanh tịnh, có định lực thì không tham chấp vào cảnh hư huyễn, thì sự Cảm Ứng tốt hay xấu đối với họ đâu còn có nghĩa gì nữa! Từ đó, khi Cảm Ứng được một điều tốt họ chắc chắn được thọ đắc tốt, Ứng đến điều xấu họ cũng được điều tốt luôn. Vì sao vậy? Vì tâm họ thanh tịnh, tốt hay xấu đối với họ cũng là mộng huyễn. Ôi, nhẹ nhàng, vô sự!"
"Lá Thư Số 44: Cảnh giới Trung Ấm!"
"Niệm Phật Vấn Đáp 07: Sự Cảm Ứng!"
"Tọa Đàm 107: Vấn Đề Tự Tại Trước Sống Chết, Xả Bỏ Thân Tiền Ấm Để Thọ Nhận Báo Thân Kim Cang Bất Hoại"
"Câu 14: Người ra đi với thoại tướng tốt, tại sao chưa chắc được vãng sanh TPCL?"
"Tọa Đàm 032: Khảo Sát Câu 14(d) [Đúng], 14(e) [Đúng], Sự Khác Biệt Giữa Tự Lực & Tha Lực"
"Lá Thư Số 38: Hộ Niệm và Gia Đình!"
"Lá Thư Số 38: Hộ Niệm và Gia Đình!"
"Tọa Đàm 179: Trừ Tâm Hiếu Kỳ Thượng Mạn, Chư Thần Hộ Trì & Đại Ân Cứu Độ Thời Mạt Pháp (Câu 4ccc – 4eee)"
"Lá Thư Số 72: Quy Tắc Tu Học Của Tổ Ấn Quang, Cảnh Giới Cảm Ứng Thấy Phật & Con Đường Thoát Ly Sanh Tử Thời Mạt Pháp"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →