Về vấn đề phương pháp khai thị ngắn gọn, then chốt giúp người bệnh buông xả muôn duyên để nhiếp tâm niệm Phật vãng sanh, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký Quyển 1 Tọa Đàm 37 trang 340, Quyển 4 Tọa Đàm 179 trang 170, Hành Trang Căn Bản Cho Người Hộ Niệm trang 7, Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm Phần Trắc Nghiệm Câu 8 trang 183, Khuyên Người Niệm Phật Tập 2 Lá Thư 37 Mục 7 trang 116, và Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp trang 7, trang 73).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong tác phẩm Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2) (Lá thư số 37, mục 7, trang 120 – 122), Thầy Thích Tịnh Hải chỉ rõ lúc lâm chung không nên mở đàn thuyết giảng dài dòng, mà chỉ cần sự nhắc nhở ngắn gọn để kéo tâm người bệnh về câu Phật hiệu:
"Đối với những người đã tu hành lâu năm, đã thường xuyên nghe pháp, nghe khai thị, đã biết niệm Phật, đã thường xuyên nguyện vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ, thì không nên phải lập đàn giảng pháp dài dòng nữa. Ví dụ, như mấy ngày trước khi lâm chung của bác Dư Thị Ky, có người tới giảng về Phật pháp, bác nói, “chuyện này tôi biết rồi, hãy niệm Phật đi”. Đây là một quyết định rất sáng suốt. Giả sử, nếu người đó không chịu niệm Phật mà cứ nói về Phật pháp bên tai, thì tâm hồn của bác có thể bị loạn không niệm Phật được, đưa đến hậu quả có thể bị mất phần vãng sanh."
Thầy giải thích rõ ý nghĩa đích thực của hai chữ "khai thị" trong giờ phút lâm chung:
"Tuy nhiên, sự nhắc nhở cho người lâm chung giữ chánh niệm để vãng sanh thì rất cần thiết. Theo HT Tịnh Không, thì “khai thị” trong những lúc lâm chung có nghĩa là đặt một người thân thương nhất, hoặc một thiện hữu tri thức bên cạnh để điều chỉnh kịp thời cho người ra đi trong những trường hợp đặc biệt bị sai lạc. Khai thị ở đây có nghĩa là đánh thức, nhắc nhở, khuyên bảo, tránh cho người lâm chung lạc vào những cảnh giới nguy hiểm. Ví dụ như: thấy bệnh nhân có hiện tượng bị hoảng hốt, khủng bố... ta củng cố tinh thần cho họ. Thấy bệnh nhân bị nóng lạnh, khó chịu, bị nhức mỏi... thì kịp thời giúp đỡ để họ thoải mái mà niệm Phật. Bệnh nhân mê muội thấy những cảnh giới lạ như thấy cha mẹ, ông bà, Tiên, Phật(?) nào khác tới rủ rê thì ta kịp thời nhắc nhở họ không được chạy theo vì đó chắc chắn là giả mạo, v.v..."
"Tóm lại, phải kịp thời nhắc bệnh nhân hãy buông xả tất cả vạn duyên, một lòng chuyên niệm Phật, một hướng nguyện về Tây Phương, chỉ được đi theo Phật A Di Đà mà thôi, còn tất cả những hiện tượng khác thì dặn dò họ tuyệt đối không để tâm tới. Hướng dẫn cần ngắn gọn, chỉ đủ để kéo tâm họ trở về câu Phật hiệu, đó gọi là “khai thị”. Ngoài những trường hợp ấy ra, ta không nên mở lời khai thị này nọ dài dòng vì dễ làm loạn tâm người ra đi mà mất phần vãng sanh của họ. Ngài nhấn mạnh, hộ niệm phải hết sức đơn giản, chỉ nên niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”, rõ ràng từng chữ, để cho người ra đi nhiếp tâm vào đó vãng sanh, không được xen tạp bất cứ một hình thức nào khác, bất cứ một ý tưởng nào khác."
Thầy đặc biệt căn dặn không được gợi thêm những việc ngoài khả năng khiến người sắp lâm chung khởi tâm suy nghĩ, phân vân:
"Khai thị lúc lâm chung không nên nhắc thêm những điều mà bình thời người đó chưa biết làm. Ví dụ, có lần có người giảng về đề tài liên quan đến sự niệm Phật và lúc lâm chung, đã nói đại ý rằng, “...khi biết chắc phải lâm chung, thì nên khuyên người đó hãy phát đại tâm, đem những gì còn sót lại cuối cùng trong đời bố thí lần chót cho chúng sanh...”. Vị đó nói, “ Sự bố thí này rất quan trọng, đã thể hiện tâm từ bi cao cả, tạo được công đức rất lớn, dễ có cảm ứng đạo giao...”. Chính anh vô tình đã nghe qua được cuộn băng này và liền đem nó quay đi quay lại đoạn khai thị này cho một vị Sư và các vị đồng tu khác cùng nghe. Tất cả các vị lần lượt giật mình và đều nói rằng:"
"- Lúc lâm chung làm sao người đó biết được cái gì là vật cuối cùng để bố thí? Khuyên như vậy khiến cho họ phải suy nghĩ, bị loạn tâm, ngay lúc đó ma quái và oan gia trái chủ tấn công vào, làm sao cứu được? Thì làm sao có thể vãng sanh?"
Trong Hành Trang Căn Bản Cho Người Hộ Niệm (Bảng chú ý 8, trang 9 – 10), Thầy cô đọng tôn chỉ khai thị qua năm điểm thiết yếu:
"Chú ý (8):"
""
"Khai Thị khi Hộ Niệm là:"
""
"◙ Nhắc nhở người bệnh buông xả vạn duyên, chán chê kiếp đời khổ não, quyết lòng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ để một đời vãng sanh bất thối thành Phật."
""
"◙ Khích lệ tinh thần kiên dũng cầu giải thoát, vững tin A Di Đà Phật cứu độ."
""
"◙ Hóa giải kịp thời những khó khăn tại chỗ, giúp người bệnh an tâm niệm Phật, không còn lo sợ, không bị khủng hoảng, không buông xuôi theo nghiệp khổ."
""
"◙ Hướng dẫn gia đình thực hiện nghiêm chỉnh quy luật hộ niệm. Khuyến khích tin tưởng pháp Phật, tích cực trợ duyên cho người thân được vãng sanh."
""
"◙ Khai Thị dựa vào Tín Nguyện Hạnh. Cần ngắn gọn, cụ thể, thích hợp với từng người bệnh. Không phải thuyết kinh, giảng đạo, hay lý luận cao siêu."
Trong tác phẩm Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm) (Chương 9, Câu 8, trang 183 – 184), Thầy nêu câu hỏi tổng và phân định rõ ràng giữa chánh pháp và nhận thức sai lệch:
Khai thị trong pháp hộ niệm cần chú ý:
"a) Hộ niệm không cần khai thị gì cả. Chỉ niệm Phật để giữ chánh niệm cho người bệnh là đủ. [✗ Sai]"
"b) Người niệm Phật nếu thật sự đã được “Nhất tâm Bất loạn” thì không cần hộ niệm, không cần khai thị nữa. [✓ Đúng]"
"c) Người phàm phu nghiệp nặng, tâm trí mê mờ, nên rất cần sự khai thị hướng dẫn, để hóa giải vướng mắc thì mới có thể vãng sanh. [✓ Đúng]"
"d) Nhắc nhở người bệnh buông xả vạn duyên, chán chê kiếp đời khổ não, quyết lòng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ để một đời vãng sanh bất thối thành Phật. [✓ Đúng]"
"e) Khai thị là khích lệ tinh thần kiên dũng cầu giải thoát, nguyện cầu A Di Đà Phật tiếp độ. [✓ Đúng]"
"f) Khai thị là hóa giải những khó khăn, giúp người bệnh an tâm niệm Phật, không lo sợ, không khủng hoảng, không buông xuôi theo nghiệp khổ. [✓ Đúng]"
"j) Khai thị cần phải thuyết giảng những lý đạo cao siêu để khai mở trí huệ cho người bệnh. [✗ Sai]"
"k) Khai Thị cần dựa vào Tín Nguyện Hạnh, từ ngữ đơn giản, trực tiếp, rõ ràng, cụ thể, thích hợp với từng người bệnh. [✓ Đúng]"
Trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 1) (Tọa Đàm 37, trang 342 – 347), Thầy giải thích cặn kẽ rằng khuyên buông xả vạn duyên không thể nói chung chung sáo rỗng, mà phải gỡ đúng mối bận lòng cụ thể của người bệnh:
"Câu 17(h): Khai thị, hướng dẫn người bệnh buông xả vạn duyên, nhiếp tâm niệm Phật cầu vãng sanh. Đúng không chư vị? – [✓ Đúng]. Khai thị cho người bệnh, nhiều người thường nói:"
"- Bác ơi!... Bác buông xả vạn duyên nhé."
"Xin thưa với chư vị, nhiều lúc nói buông xả vạn duyên, nhưng coi chừng chính người bệnh không biết duyên gì để mà buông đó!... Thành ra khuyên buông xả vạn duyên, có nghĩa là cái duyên nào người bệnh đang bị kẹt, hãy tìm cho ra mà khuyên họ buông xuống, mạnh dạn nhắc nhở họ bỏ ngay cái vướng chấp này đi. Chứ còn khuyên “Buông vạn duyên… buông vạn duyên…”, vạn duyên nhiều quá, họ biết buông cái nào, giữ cái nào đây? Nội dung lời khai thị này nhìn qua có vẻ đơn giản vô cùng, dễ dùng, nhưng đừng nên sử dụng quá máy móc mà nhiều lúc làm cho người bệnh cảm thấy lúng túng, mơ hồ."
Người hộ niệm cần khéo léo tìm hiểu hoàn cảnh và tâm tư người bệnh để gỡ đúng gút mắc:
"Nghĩa là, khuyên buông xả vạn duyên, thành tâm niệm Phật, cầu về Tây Phương là mẫu nói chung, có lợi, không hại. Nhưng nếu chỉ nói chung chung như vậy, tình thực rất khó hóa gỡ được những vướng chấp của một người, nhất là người đang thọ nghiệp khổ. Ngoài trừ những người thực sự có công phu tu hành tốt, trí huệ khai mở, Tín Nguyện Hạnh đã đầy đủ, chỉ cần nhắc nhở tổng quát chung là được, vì thực sự họ đâu cần đến sự khai thị nữa. Còn bình thường rất nhiều người vướng mắc đủ điều, mình cần phải tìm cho đúng cái vướng mắc của họ để gỡ ra."
"Một người đang nhớ tiền, đang kẹt vào chuyện tiền bạc mà mình tới khuyên họ buông con cháu ra, thì buồn cười lắm vậy. Một người đang muốn hoàn thành một chuyện ơn nghĩa gì đó của thế gian chưa làm xong, trong lòng áy náy chẳng an, nên cứ sầu muộn mãi. Đến lúc sắp chết rồi, tự nhiên tâm thức của họ cứ nghĩ mãi về chuyện đó. Hãy làm sao cố gắng giải tỏa cho được cái vướng chấp này mới tốt cho họ được."
Thầy nhắc nhở người khai thị phải dọ hỏi người nhà để biết người bệnh vướng mắc điều gì, đặc biệt là phải chuyển hóa tâm sợ chết thành niềm vui vãng sanh:
"Xin thưa với chư vị, hộ niệm nhiều lúc mình trở thành một viên điều tra bất đắc dĩ, tìm hiểu về tâm lý, tư tưởng, cách sống, thói quen, thích ai, ghét ai… của người bệnh. Hãy cố gắng tiếp chuyện với gia đình để dọ hỏi thử người bệnh vướng mắc điều gì mà khai mở ra, khuyên họ xả bỏ đi, được vậy họ mới có thể vãng sanh. Còn hộ niệm mà cứ tới nói chung chung: “Bác buông xả vạn duyên đi về với Phật nhé…”, thì khó lòng giúp ích được ai vậy. Nói chung chung thì Lý không sai, nhưng Sự thì hơi vụng về. Khai thị cần đúng với tâm trạng của từng người, đúng theo từng chi tiết một, từng trường hợp một thì có hiệu quả tốt vô cùng."
"Người đang thương con nhớ cháu, nhất định phải nói cho họ biết phải quyết lòng vãng sanh mới có cơ hội lo lắng cho con cháu sau này. Người đang sợ chết, nhất định phải khai giải cho được chuyện này, nhất định phải chấm dứt ý niệm sợ chết, phải làm sao tìm mọi cách giúp họ chuyển sự sợ chết thành vui mừng vãng sanh, vì vãng sanh là không chết, vãng sanh là về nước Cực Lạc để sống an vui. Phải hóa gỡ cho được những điều người bệnh vướng chấp thì họ mới vãng sanh. Còn cứ nói khơi khơi thì vô phương hóa giải, vãng sanh khó thành!"
Thầy giảng tiếp về việc dứt trừ tâm sợ chết và tâm sợ bệnh ở mệnh đề 17(i) (trang 347 – 349):
"Câu 17(i): Giúp người bệnh không cầu hết bệnh, không sợ chết, tha thiết muốn vãng sanh thành đạo. Đúng không chư vị? – [✓ Đúng]. Điều này quá rõ ràng. Tập sách này đưa ra từng điểm từng điểm cụ thể để khai thị, hướng dẫn. Một người không kẹt chỗ này thì nhất định cũng kẹt chỗ khác, không vướng chỗ nọ, chắc chắn cũng mắc chỗ kia. Quyển sách này cố gắng liệt kê ra hầu hết những cái kẹt thông dụng nhất để chúng ta biết qua. Người sợ chết, nhứt định không được vãng sanh. Vậy thì xin hỏi, chư vị có sợ chết không? Buông bỏ ngay ý niệm sợ chết đi nhé chư vị. Nếu sợ chết, thì tự mình rước lấy đại họa vào thân đấy. Sợ chết thì trong tâm cứ chờn vờn nghĩ về cảnh chết. Người nào nhớ mãi đến cảnh chết thì phải chết, không thể vãng sanh. Đừng nghĩ rằng bây giờ sợ chút chút thôi, chừng đó mình sẽ bỏ. Không đâu. Nỗi sợ chết chút chút hôm nay, sẽ mạnh lên 1.000 lần hơn ở cuối đời đấy."
"“Giúp người bệnh không cầu hết bệnh”. Chư vị có sợ bệnh không? Có không? Xin thưa thực với chư vị, có bệnh thì uống thuốc, đi bác sĩ khám bệnh, tìm cách chữa bệnh là điều chúng ta phải làm. Nhưng bệnh mà tinh thần xuống dốc, lo âu, sầu bi, sợ sệt, lo lắng từng chút từng chút, thì thuộc loại người bi quan yếm thế, tâm lực yếu đuối, trở thành một chướng ngại khá lớn cho đường vãng sanh đấy. Chư vị cứ để ý thì biết, một người quá lo sợ về bệnh tình, dẫu cho niệm Phật 50 năm đến sau cùng họ cũng sẽ gặp nhiều điều vô cùng khó khăn khi xả bỏ báo thân. Nhất định như vậy, chắc chắn như vậy."
"Trước đây Diệu Âm đã gặp một vị đó, tu hành cũng khá lâu, Phật pháp nói cũng khá hay, nhưng vừa mới phát hiện ra bệnh tiểu đường, thì liền xuống sắc, suốt ngày than than thở thở đến thấu trời xanh!... Có một lần Diệu Âm nằm chung phòng với vị đó, hai giường kề bên nhau, Diệu Âm nghe vị đó than vắn thở dài suốt đêm không ngủ. Đây là trạng thái của người sợ bệnh. Sợ bệnh, suy cho cùng là từ sợ chết mà ra. Đã sợ chết rồi thì, xin nói thẳng thắn, dẫu cho có hộ niệm cũng khó được vãng sanh. Cho nên, xin thành khẩn nhắc nhở lời này, chư vị nên tập tự tại trước bệnh hoạn mới tốt, mới được vãng sanh."
"Tự tại trước bệnh hoạn có nghĩa là sao? Có nghĩa là, không phải mình không bệnh, nhưng có bệnh mà vui vẻ mặc nhiên, chấp nhận. Tại vì nghiệp chướng của chính mình, thì mình phải trả. Không trả hôm nay thì phải trả ngày mai. Không trả trước thì đến lúc lâm chung cũng phải trả. Vậy thì nghiệp nào ra trước ta trả trước, khỏi bận lòng trả sau, còn những nghiệp không ra thì kệ nó, không cầu không đợi. Như vậy, tự tại trước bệnh khổ là có bệnh mà không sợ, không ngại, không buồn, không lo… thì khi lâm chung tự nhiên chư vị thấy an nhiên, tự tại. Có tự tại trước bệnh khổ mới được vãng sanh. Hiểu được như vậy, chúng ta quyết lòng quyết dạ đi cho đúng để cùng nhau vãng sanh Tây Phương Cực Lạc nhé."
Trong Hành Trang Căn Bản Cho Người Hộ Niệm (Bảng chú ý 7, trang 7 – 8), Thầy nêu rõ những điều dặn dò người bệnh phải xả bỏ:
"Chú ý (7):"
""
"Dặn dò Người Bệnh:"
""
"◙ Không được luyến lưu người thân. Lưu luyến thì mất vãng sanh."
""
"◙ Không được tiếc nhớ gia tài, sự nghiệp. Tiếc nhớ thì mất vãng sanh."
""
"◙ Không sợ chết. Chết là xác thịt hư hại phải trả về với cát bụi, còn chính mình không chết. Vậy thì phải lo đường vãng sanh. Sợ chết thì mất vãng sanh."
""
"◙ Không cầu hết bệnh. Cầu hết bệnh là còn tham luyến thế gian này, là không muốn vãng sanh thành đạo. Cầu xin hết bệnh thì mất vãng sanh."
""
"◙ Mất vãng sanh thì bị đọa lạc, khổ đau đời đời kiếp kiếp! Hãy buông xả vạn duyên. Quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ, vĩnh viễn hưởng được an vui cực lạc, thành tựu đạo quả tại cõi Tây Phương Cực Lạc."
Trong tác phẩm Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (Mục hỏi về tần suất khai thị, trang 7 – 9), Thầy cảnh báo việc nói liên tục bên tai và hướng dẫn thời lượng khai thị thích hợp:
"Nhiều Ban Hộ Niệm, Diệu Âm thấy người khai thị nói liên tục bên tai người bệnh. Đây là điều không tốt, dễ làm người bệnh loạn tâm, tức bực, hoặc khó chịu. Có nhiều khi vì mình nói hoài, bắt họ phải chú tâm nghe mãi, làm họ bực mình, tự ái, phiền não... mà không muốn mình Hộ Niệm nữa đó."
"Khoảng 1 giờ nhắc nhở một lần là đủ rồi. Nếu người có tín tâm vững, có phát nguyện tha thiết, thường ngày biết niệm Phật tu hành nhiều v.v.. thì nhiều khi khỏi cần khai thị nữa. Xin mọi người hãy nhiếp tâm niệm Phật để người bệnh cũng nhiếp tâm niệm theo thì tốt hơn."
Qua trường hợp thực tế khi hộ niệm cho Cụ Hồ Thị Lan, Thầy chia sẻ kinh nghiệm xử lý khi người bệnh mê man:
"Cụ Hồ Thị Lan, khi Diệu Âm tới thì cụ đã bị mê man nằm im thiêm thiếp. Hỏi gia đình thì biết Cụ không niệm Phật tốt mấy, con cháu trong nhà chưa vững lắm về pháp Phật... chính vì vậy mà Diệu Âm khuyên giải khá nhiều trong những ca Diệu Âm đến Hộ Niệm, nhưng ít ra cũng 30 phút mới nói một lời ngắn. Coi trong video thấy khai thị nhiều là do Hộ Niệm nhiều lần, và người quay phim quay nhập lại, không có chia ra mà thôi."
Thầy chỉ rõ những sơ suất nghiêm trọng như ép buộc người bệnh hoặc hỏi dồn dập bắt người bệnh trả lời:
"- Có nhiều cuộc Hộ Niệm, người khai thị nói nhanh quá, nói cứng quá, nói cao ngạo quá, hoặc sơ ý không giữ sự thành kính với Tam Bảo, hoặc nói quá cứng khi hóa giải oan gia trái chủ... đây cũng là điều không tốt lắm, cần nên chú ý sửa chữa lại."
""
"- Có nhiều khi người Hộ Niệm nhắc nhở mà có tính cách bắt buộc người bệnh phải niệm theo, cứ lắc đầu người bệnh, bắt họ phải mở miệng niệm theo, ép buộc họ phải mở mắt ra nhìn tượng Phật... đây cũng là điều không tốt. Nếu thấy người bệnh cứ ngủ hoài, thì lâu lâu cũng nên nhắc nhở họ cố gắng vùng lên kiên cường niệm Phật, vui vẻ khích tấn họ là điều tốt. Tuy nhiên, nhiều khi người bệnh quá mệt mỏi thì cũng cần cho họ nghỉ một chút, hoặc khuyên họ thầm niệm theo. Chú ý giúp họ giữ vững ý nguyện niệm Phật, chứ không thể bắt buộc họ được."
"- Nhiều người hướng dẫn người bệnh mà cứ hỏi nhiều quá, bắt bệnh nhân phải trả lời liên tục, cũng không tốt! Hãy nên nói ngắn, vui vẻ một vài phút là đủ, rồi niệm Phật là được. Hỏi người bệnh nhiều quá làm họ dễ loạn tâm."
"- Khi hướng dẫn, khai thị, không nên mở ra những vấn đề lạ, hoặc hỏi những câu hỏi làm cho bệnh nhân khó trả lời. Nếu sơ ý mở ra một câu hỏi nào, người bệnh chưa kịp trả lời hoặc cần đến suy nghĩ, thì chính người khai thị phải nhanh chóng trả lời giùm cho người bệnh liền, đừng để họ suy nghĩ hoặc phiền não."
"Ví dụ: mình hỏi:"
""
"Cụ muốn nằm đây hay muốn về Tây Phương? Gặp người vui vẻ thì họ trả lời được, có người họ cảm thấy khó chịu vì họ nghĩ rằng mình khinh thường họ. (Đây cũng là tập khí không tốt!). Thấy vậy, đã lỡ hỏi, thì phải nhanh chóng tự giải quyết liền:"
""
"Ở đây khổ quá Cụ à, đau đớn, nhức mỏi, hãy mau về Tây Phương với A Di Đà Phật hưởng tận sự sung sướng, thành Bồ Tát, thành Phật nghen, v.v.. và v.v.."
""
"- Tập nói cho thật tự nhiên, cũng đừng quá vội, quá nhanh, cũng đừng quá nhựa nhựa, quá chậm. Nói tự nhiên và không làm quá vẻ nghiêm trang, căng thẳng. Hãy vui vẻ, tự nhiên, thản nhiên, đầy đủ sự khuyến tấn, khích lệ... Những khả năng này sẽ phát triển dần theo kinh nghiệm. Thông thường những lần Hộ Niệm đầu, ta nói hay bị vấp víu, nhưng không sao đâu, từ từ sẽ tốt dần..."
Trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 1) (Tọa Đàm 37, trang 341 – 342), Thầy lưu ý người khai thị phải uyển chuyển theo căn cơ người bệnh, không máy móc cứng nhắc:
"Tùy cảnh, tùy cơ, tùy duyên ứng đối chứ không phải lúc nào cũng nhẹ nhàng là tốt. Không nên ứng dụng nguyên tắc quá cứng nhắc để khai thị trước người bệnh mà làm cho lời khai thị bị khô khan đi, khó đem lại hiệu ứng tốt. Ví dụ, đối với một người đang mê mê tỉnh tỉnh trong những cảnh giới mập mờ nào đó, mà lời khai thị nhẹ nhàng, ru ru thì thường không có tác dụng, khó mà vực tâm thần họ dậy được. Cho nên, có nhiều lúc khai thị cần nói mạnh, có nhiều lúc cần phải uyển chuyển nói nhẹ nhàng. Tất cả đều phải tùy duyên chứ không thể cứng nhắc. Những người mắt đã yếu mờ, tai đã lễnh lãng rồi, mà nói giọng nhẹ nhàng như tiếng gió vi vu thì thôi chịu thua, không giúp ích gì được. Còn những người tỉnh táo, nghe tốt, đã niệm Phật tinh chuyên rồi, thì cần gì phải nói mạnh, cần chi phải nhắc nhở nhiều. Chỉ cần vài lời nói nhẹ nhàng khuyến khích thêm là đủ cho họ rồi vậy."
Trong tác phẩm Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (Hộ Niệm Vấn Đáp 22, trang 73 – 79), Thầy nhấn mạnh lòng chân thành tha thiết quan trọng hơn kiến thức lý thuyết:
"- Điều thứ hai: nói về: "Kiến thức Phật Pháp phải vững vàng? (Pháp môn Tịnh Độ)"
""
"Có kiến thức thì tốt, nhưng tốt nhất vẫn là lòng chân thật, thành tâm. Người Hộ Niệm nên dùng tâm chí thành, chí kính, tha thiết để khuyên người bệnh buông xả vạn duyên, cầu Vãng Sanh, cầu giải thoát ách nạn."
""
"Không nên tự mãn vào kiến thức về Phật học mà giảng rộng kinh pháp trong khi khai thị Hộ Niệm. Nên tránh những lời triết lý, nói huyền, nói diệu, hay diễn giải những đạo lý cao siêu khi Hộ Niệm."
""
"Nhất là đối với người bệnh chưa tắt hơi, những cách nói huyền nói diệu này rất dễ làm người bệnh rối mù, khó hiểu, nhứt đầu... khiến cho tâm đã bị loạn lại càng loạn thêm...!"
"Hẳn nhiên, không có điều gì cứng nhắc, thì người Hộ Niệm cũng cần biết uyển chuyển để sự việc được êm xuôi. Đây là điều cho phép."
""
"Khai thị, nghĩa là gỡ nạn cho bệnh nhân. Mỗi bệnh nhân có mỗi nạn riêng. Cần khéo léo giúp bệnh nhân giải tỏa tâm tư đang bị vướng mắc của họ. (Nên hỏi người nhà để rõ về: tình cảm, ý nghĩ, thương ai, ghét ai, luyến lưu điều gì... của bệnh nhân để dễ có lời khuyên đúng mức)."
Về đạo lực và sự hóa giải chướng nạn oan gia trái chủ, Thầy phân tích cặn kẽ ở điều thứ tư (trang 76 – 79):
"- Điều thứ tư: nói về: "Lời nói phải có lực (công năng) vì mình nói không có lực, thì lúc khai thị cho oan gia trái chủ họ sẽ không nghe, không sợ..."
""
"Khai thị phải có lực mới tốt. Khai thị mà nói nhừa nhựa, nét mặt ưu sầu, tư tưởng tiêu cực, cử chỉ thiểu não, nói mập mờ, v.v.. rất khó cảm ứng, rất khó giải tỏa những uẩn khúc trong tâm, khó phá được những nỗi lo âu sầu muộn trong lòng người sắp chết."
""
"Nên nhớ, người sắp chết họ bị rất nhiều áp lực như: hãi hùng, lo sợ, âu sầu, luyến lưu, phân vân... Nói chung, tâm trạng của họ đang rối bời bời!"
""
"Chính người Hộ Niệm phải có đủ những ưu điểm này trước. Có thế mới chuyển những cảnh giới đang bất thuận lợi trước mắt."
"Tuy nhiên, nên nhớ thật kỹ điều này, lực này không phải là một thứ uy lực gì đó giúp mình khai thị làm cho oan gia trái chủ sợ mà nghe theo đâu."
""
"Hộ Niệm mà sơ ý, coi chừng tạo nghiệp! Người Hộ Niệm mà khởi tâm cao ngạo, coi chừng bị oán nghiệp!"
""
"Khai thị, điều giải oan gia, người Hộ Niệm luôn phải có tính thần cung kính, khẩn cầu, thỉnh nguyện chư pháp giới chúng sanh buông bỏ hận thù để cùng chúng ta Niệm Phật, kết duyên lành với A Di Đà Phật, cùng cầu về miền Cực Lạc, để cùng nhau liễu thoát sanh tử luân hồi, cùng thành tựu đạo giải thoát."
""
"Nhất định, xin đừng bao giờ dùng "Uy lực gì đó" riêng của mình mà chèn ép oan gia. Không nên vì cứu người bệnh sắp chết mà làm hại đến chư vị oan gia trái chủ."
"Từ bi thương chúng sanh, thì tất cả hữu tình trong pháp giới đều là chúng sanh. Người Hộ Niệm phải có tâm từ bi một cách bình đẳng. Ta không thể vì người này mà hại đến người khác, dù là họ đang ở trong bất cứ cảnh giới nào, vô hình hay hữu hình."
""
"Hãy thành tâm khuyên họ buông xả oán thù, buông xả lục đạo luân hồi, buông xả tham sân si mạn... để Niệm Phật cầu Vãng Sanh thoát vòng sanh tử khổ đau. Hãy tha thiết làm điều này. (Nếu họ không chịu buông xả, thì đó là nghiệp chướng riêng của họ)."
""
"Tất cả đều có nhân quả. Hãy nương theo nhân quả mà khuyên nhau làm thiện làm lành để hưởng quả báo thiện lành."
"Người tu hành tốt, tự họ có đức hạnh tốt, lời nói của họ được chư oan gia kính nể, tin tưởng, vâng lời. Chính vì thế, chúng ta nên nhờ các vị này khai thị là điều tốt. Đây là do cái đức của họ lớn mà có ảnh hưởng tốt, chứ không phải họ dùng nội lực riêng mà trấn áp người khác đâu. Người cố tình dùng oai lực riêng của mình để ép buộc người khác không thể gọi là "Chánh Pháp" được!"
""
"Mình muốn có cái đức lớn thì phải tự tu hành tốt. Đối với pháp Niệm Phật, thì Tín Nguyện Hạnh thật vững là tu tốt vậy."
Trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm) (Chương 9, Câu 8, trang 184), Thầy khẳng định lại về sự điều giải bằng tâm thành kính:
Khai thị trong pháp hộ niệm cần chú ý:
"g) Người hộ niệm phải có năng lực mạnh mới hóa giải được nạn oán thân trái chủ. [✗ Sai]"
"h) Người hộ niệm luôn luôn dùng lòng thành kính để điều giải oán thân trái chủ mới tốt. [✓ Đúng]"
"l) Người hộ niệm một thời gian thì tự nhiên sẽ có năng lực đặc biệt như thấy được cảnh giới vô hình, thấy được oán thân trái chủ... [✗ Sai]"
"m) Người hộ niệm tự cho mình có năng lực đặc biệt coi chừng bị tẩu hỏa nhập ma. [✓ Đúng]"
Trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 4) (Tọa Đàm 179, trang 170 – 176), Thầy chỉ rõ người hộ niệm chỉ là trợ duyên giúp người bệnh đầy đủ Tín Hạnh Nguyện, thành tâm chí kính thì được chư Hộ Pháp gia trì:
"(ddd): Người thành tâm niệm Phật, hộ niệm, giúp người vãng sanh được chư Thiên Long Hộ Pháp bảo vệ không thể bị ma nhập được."
""
"Đúng hay sai? – [✓ Đúng]. Đây là câu trả lời rõ ràng về ý nghĩ người hộ niệm thường bị ma nhập là sai. Nhưng thực tế, người hộ niệm có thể bị nhập không?"
""
"Thưa chư vị, có đấy. Tại sao vậy? Tại vì người hộ niệm cũng là người phàm phu, nghiệp chướng vẫn nặng nề, nếu khởi tâm thượng mạn, bất chánh thì dễ dàng bị nhập. Nghĩa là, bị nhập là do tâm thượng mạn chứ không phải do hộ niệm. Thế thôi…"
"Cho nên, xin luôn luôn nhắc nhở rằng, người hộ niệm có nhiệm vụ hướng dẫn trợ duyên giúp cho người bệnh thực hiện đầy đủ tông chỉ của pháp môn niệm Phật. Chỉ khi nào người bệnh thực hiện đầy đủ tông chỉ, thì người đó sẽ được cảm ứng với 48 đại nguyện của A Di Đà Phật và được Đức Từ Phụ tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải người bệnh được vãng sanh là do năng lực của người hộ niệm."
"Người hộ niệm mà tự xưng rằng mình có năng lực tiếp dẫn người bệnh, thì nhất định có tâm thượng mạn. Người đi hộ niệm mà tuyên bố rằng có khả năng cứu người này người kia vãng sanh, thì nhất định người này đã sai rồi. Một khi tự thấy mình có năng lực gì đó, thì người hộ niệm đã gạt bỏ sự gia trì của chư Bồ Tát, gạt bỏ sự bảo vệ của chư Thiên Long Hộ Pháp. Xin hỏi, người hộ niệm có dám qua mặt các Ngài Hộ Pháp không? Xin nhớ cho kỹ. Tâm địa đã sai lầm thì dù có tu hành Pháp Phật cũng trở thành tà đạo. Hành tà đạo thì chờ ngày bị nạn vậy thôi."
"Vậy thì, người chân thật niệm Phật hộ niệm giúp người vãng sanh không bao giờ được quyền tự xưng là có năng lực này nọ. Người đi hộ niệm mà thành tâm chí kính niệm câu A Di Đà Phật, phát cái tâm chân chính ra trợ duyên cho người vãng sanh thì chư Thiên Long Hộ Pháp bảo vệ, gia trì cho người đó. Xin chư vị phát tâm đi hộ niệm nên nhớ cho kỹ điều này. Có lòng thành tâm chí kính thì nhiều khi ngồi trước người bệnh nói những câu hết sức bình thường, nhưng lại giúp cho người bệnh giải tỏa được nhiều ách nạn, đây là do lòng thành mà được gia trì đó thôi, chứ không phải là do năng lực của người hộ niệm đâu. Còn khởi tâm thượng mạn lên, thì các Ngài không gia trì bảo vệ nữa, mà chư ác thần tiếp cận nhiễu loạn, tự mình hại mình, hại luôn người bệnh."
"Hiểu được đạo lý này, mong chư vị luôn luôn giữ lấy tâm hạnh khiêm cung, thành kính, đừng bao giờ tự cho mình đã chứng đắc, đã đủ khả năng cứu người để được sự gia trì bảo vệ tốt mà hành đạo. Một câu A Di Đà Phật thành tâm niệm lên giải được vô lượng vô biên ách nạn cho ta cho người vậy."
"Lá Thư Số 37: Tổng quát về sự Hộ Niệm! – Mục 7: Hộ niệm có cần khai thị không?"
"10 Bảng Hộ Niệm Chú Ý Của Lão Cư Sĩ Diệu Âm (Bảng Chú Ý 7 & Bảng Chú Ý 8)"
"Câu 8 (Trang 183 – 184)"
"Tọa Đàm 037: Khảo Sát Câu 17 & Các Mệnh Đề 17(e), 17(f), 17(g), 17(h), 17(i) [Đều Đúng], Nghệ Thuật Khai Thị Đúng Vướng Mắc & Tự Tại Trước Bệnh Khổ"
"Hỏi về tần suất khai thị và những sơ xuất nghiêm trọng người khai thị cần tránh"
"Hộ Niệm Vấn Đáp 22: Để làm trưởng Ban-Hộ-Niệm"
"Tọa Đàm 179: Trừ Tâm Hiếu Kỳ Thượng Mạn, Chư Thần Hộ Trì & Đại Ân Cứu Độ Thời Mạt Pháp (Câu 4ccc – 4eee)"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →