Về vấn đề hỏa táng hay địa táng tốt hơn cho người niệm Phật và những lưu ý cốt tử khi xử lý thân xác, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký Quyển 2 Tọa Đàm 070 và 077; Quyển 3 Tọa Đàm 128; Khuyên Người Niệm Phật Tập 4 Thư 71; Tập 2 Thư 42).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong nghi thức hậu sự của người thế gian, việc phân vân giữa việc hỏa thiêu hay chôn cất thường gây nên nhiều nỗi hoang mang cho thân bằng quyến thuộc. Nhiều gia đình lo sợ rằng việc hỏa táng sẽ khiến hương linh bị lửa thiêu nóng nảy, hoặc lo ngại chôn cất không đúng nơi chốn thì người chết không được an mồ yên mả. Đối với người tu học Tịnh Độ, cái nhìn về nhục thân và sự an táng hoàn toàn xuất phát từ Chánh Kiến nhân quả.
Thân xác vật chất này vốn do bốn đại đất, nước, gió, lửa hòa hợp giả tạm mà thành; khi báo thân mãn thì hơi ấm tiêu tan, trước sau gì khối vật chất ấy cũng phải trả về cho cát bụi hư hoại. Người niệm Phật chân chánh hướng về Tây Phương Cực Lạc là giải thoát Chơn Tâm Tự Tánh nương theo nguyện lực Phật A Di Đà để vãng sanh, chứ không phải mang thân xác phàm trần này về cõi Phật. Việc chôn cất hay hỏa thiêu chỉ là hình thức bên ngoài tùy thuộc vào hoàn cảnh gia đình, phong tục và vệ sinh môi trường.
Trong tác phẩm Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), Tọa Đàm 077 (trang 290), Cư sĩ Diệu Âm đã phân tích rất rõ sự tùy duyên này:
"Tang sự, lễ lộc phần nhiều là nghi lễ thuộc về thế gian. Ngay trong lễ nghi Phật Giáo cũng thường tùy thuận vào thế gian mà chế ra. Người Việt Nam chết thì liệm trong hòm, chôn cất có kèn trống… Người Hoa thì hiện nay không cho dùng hòm để chôn, lại thường đốt nhiều vàng mã giấy tiền. Người Tây Tạng thì họ dùng điểu táng, nghĩa là thân xác người chết phải cắt thành từng khúc đem ra để ngoài đồng cho loài chim kền kền ăn thịt, v.v… Như vậy, chuyện tang lễ dù dưới hình thức nào đi nữa, dưới bất cứ tôn giáo nào cũng có ảnh hưởng tập tục của thế gian. Sống trong xã hội chúng ta hòa nhập với xã hội là điều tốt. Nhưng điều quan trọng nhất của Pháp Hộ Niệm là giúp cho được chính cái thần thức của người ngự trị trong cái thân xác đó biết đường vãng sanh thẳng về Tây Phương Cực Lạc, thoát khỏi cảnh đọa lạc khổ đau."
Tiếp đó, Thầy cảnh tỉnh về sự chấp trước sai lầm vào thể xác hư hoại (trang 290):
"Nhiều người chỉ chú ý đến cái xác thân vật chất này, dù biết rằng trước sau gì nó cũng trả về cho vật chất, sẽ tan rã trong một vài ngày, vậy mà cứ chấp lấy các tập tục của thế gian làm trọng, thì thật là tội nghiệp cho người đã chết lắm vậy! Một khi chú tâm vào tục tục của thế gian thì xem nhẹ phần giải thoát, khiến cho người chết đành phải vướng nạn mà chịu đọa lạc khổ đau đời đời kiếp kiếp. Thật oan uổng thay!"
Điều then chốt mà Cư sĩ Diệu Âm luôn nhắc nhở sâu sắc chính là: Tuyệt đối không được đụng chạm, di chuyển, lau rửa, tẩn liệm hay đem thân xác đi thiêu hoặc chôn khi thần thức chưa hoàn toàn xuất khỏi thể xác.
Khi một người vừa trút hơi thở cuối cùng, tim ngừng đập, nhưng thần thức thường chưa rời đi ngay. Thời gian này thông thường kéo dài từ 8 đến 12 tiếng đồng hồ, thậm chí có trường hợp kéo dài hơn. Trong giai đoạn này, dù thân thể bất động nhưng thần thức vẫn còn cảm giác rất nhạy bén:
Trong tác phẩm Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2), Lá Thư Số 42 (trang 164), Cư sĩ Diệu Âm ghi lại sự thực hộ niệm cụ bà Dư Thị Ky đã để lại thoại tướng mềm mại trước khi hỏa táng:
"Một đêm trước phút lâm chung, người ta khởi sự thay phiên nhau hộ niệm liên tục suốt đêm và cuối cùng bác lặng lẽ ra đi vào khoảng 4 giờ sáng trong tiếng niệm Phật của con cháu và những người hộ niệm. Gia đình để nguyên như vậy và tiếp tục niệm Phật cho đến 6 giờ chiều mới gọi nhà quàn tới làm việc. Thời gian sau khi lâm chung bác được hộ niệm liên tục, không gián đoạn, là hơn 14 tiếng đồng hồ mới động đến thân thể để tẩn liệm."
"Hơn 14 tiếng đồng hồ sau khi tắt thở, thân xác mềm mại, hoàn toàn không cứng. Người ta đặt hai tay bác chéo trước bụng để bồng xác lên thì hai tay cứ rơi xuống đu đưa như người đang ngủ. Sự việc này làm cho người thợ liệm vô cùng ngạc nhiên và phát biểu rằng, “30 năm làm trong nghề, đây là lần đầu tiên tôi gặp chuyện lạ lùng như thế này”."
"Năm ngày sau, trước khi chuyển đi thiêu, người ta mở quan tài cho người nhà nhìn mặt lần cuối, thì thân xác vẫn còn mềm."
"Khi thiêu xác, thu nhặt được 38 hạt xá lợi."
Nhiều gia đình người tu Tịnh Độ vẫn còn mang nặng tâm lý thế tục: lo sợ mồ mả không hợp hướng, lo đi xem bói chọn ngày giờ chôn cất để cầu tài lộc, hoặc sợ người chết trở về bắt con cháu. Cư sĩ Diệu Âm đã chỉ rõ đây là tư tưởng mê muội, hoàn toàn trái ngược với giáo lý Nhân Quả của Phật pháp.
Trong tác phẩm Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), Tọa Đàm 070 (trang 221), Thầy giải thích rõ ràng:
"Người tu hành chánh pháp đâu thể nào tin vào những thuyết thiếu căn bản, mà nhẹ nhàng gởi huệ mạng của mình vào một mô đất quạnh quẽ bên đường? Phước lành gì đây? Không chịu niệm Phật cầu giải thoát, sống mà cứ nhắm đến nấm mồ, thì dù có hay ho gì đi nữa cũng phải chui xuống nấm mồ chịu nạn!"
Thầy chỉ dạy người học Phật phải y cứ vào luật nhân quả thay vì phong thủy (trang 221):
"Người học Phật hãy lấy định luật Nhân Quả của Phật dạy làm căn bản để sống mới tốt. Làm điều thiện phước thì phước thiện có dư. Làm điều xấu ác thì tai ương họa hại kèm sát bên mình. Đây là căn bản của sự tu hành chúng ta cần chú ý, chứ đâu thể kỳ vọng vào những thuyết phiêu phỏng hoang đường để rước khổ nạn vào thân, tiền mất tật mang, tự chuốc lấy phiền não."
Đồng thời, trong tác phẩm Khuyên Người Niệm Phật (Tập 4), Lá Thư Số 71 (trang 90), Thầy khuyến tấn người niệm Phật phải buông xả chấp trước vào nấm mồ:
"Người đã niệm Phật cầu vãng sanh, sao lại còn muốn làm ma đi theo quan tài xuống nằm dưới huyệt mộ làm chi vậy? Hai đường ngược chiều nhau, một đường đi lên, một đường chui xuống. Đường nào phải chọn một đường, chắc chắn không thể một lúc đi hai đường được. Tin không sâu, nguyện không thiết, dù có niệm Phật cũng vẫn bị lạc đường là vì vậy."
"Vãng sanh là đi về Tây Phương cảnh Phật, thần thông đạo lực nhiệm mầu, có năng lực của một vị đại Bồ Tát, hưởng an vui cực lạc chờ ngày thành Phật. Đi làm ma trong nghĩa địa thì đời đời đói khát thê lương, cơ hàn, thống khổ. Cảnh nào tốt hơn? Nhất thiết duy tâm tạo. Phật dạy, tất cả đều do mình chọn lựa. Niệm Phật phải quyết cầu vãng sanh, tranh thủ từng phút để niệm Phật, thì chắc chắn được vãng sanh. Thế thì, còn lưu luyến làm chi cái thân xác sắp rã thối, còn ham làm chi cái mô đất trong nghĩa địa hoang vu?!"
Sau khi đã hộ niệm trọn vẹn từ 8 đến 12 tiếng và tiến hành tẩn liệm êm xuôi, tang quyến cần đồng lòng tổ chức việc an táng hoặc hỏa táng theo đúng tinh thần Phật pháp:
Nhục thân tứ đại chỉ là phương tiện tạm bợ, sự siêu thoát của Chơn Tâm về cõi Cực Lạc mới là cứu cánh rốt ráo, như lời chỉ dạy trong Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 3), Tọa đàm 128 (trang 140):
"Cõi này là thế giới thuộc về Pháp Tướng, vật chất ô trược đang làm chủ, còn thế giới Tây Phương Cực Lạc thuộc về Pháp Tánh, là nơi Chơn Tâm Tự Tánh ngự trị, hoàn toàn thanh tịnh. Vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc không phải là cục thịt này đi vãng sanh, mà Chơn Tâm của chúng ta về ngự nơi đó. Người thế gian thường gọi cái Chơn Tâm này bằng một từ ngữ chung là Tâm Linh. Đi vãng sanh bằng cái Tâm Linh chứ không phải thân xác. Tâm Linh không phải là vật chất. Bất cứ một người nào trở về được đúng với cái Tâm Linh chân thật của mình, trong nhà Phật gọi là trở về Chơn Tâm Tự Tánh, thì tất cả những nghiệp nhân quả báo trong sanh tử luân hồi không còn câu thúc nữa, những nghiệp chướng không thể chi phối vào cái Chơn Tâm này. Xin chư vị nên nhớ cho lý đạo này."
"Tọa Đàm 070: Khi Bệnh Tình Không Còn Chữa Trị Được Nữa Gia Đình Cần Làm Gì? (Câu 33a, 33b, 33c)"
"Tọa Đàm 077: Tránh Ôm Đồm Tang Lễ, Tuyệt Đối Không Nhận Tiền & Khuyên Phóng Sanh Tu Phước (Câu 34s, 34t, 34u)"
"Lá Thư Số 71: Vạn Pháp Duy Tâm & Buông Xả Chấp Trước Nhà Cửa, Phân Định Nghi Thức Hộ Niệm Lâm Chung Và Pháp Môn Nhất Thừa Thật Tướng"
"Lá Thư Số 42: Làm lành để chuyển nghiệp!"
"Tọa đàm 128: Khảo sát Chánh Kiến – Đới Nghiệp Vãng Sanh Khác Với Tự Lực Tu Chứng Ở Điểm Nào? (Vấn đề 23 tiếp theo, Mệnh đề u – v)"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →