Về vấn đề hiện tượng hồi quang phản chiếu và sự tỉnh táo bất ngờ của người bệnh trước giờ phút lâm chung, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Sách Vấn Đáp, tr. 185; Hành Theo Ấn Tổ, Tọa đàm 14; Giảng Ký Quyển 4, Tọa đàm 191; Giảng Ký Quyển 1, Tọa đàm 12; Giảng Ký Quyển 2, Tọa đàm 56, 67; Khuyên Người Niệm Phật Tập 2, Lá thư 26; Sách Trắc Nghiệm, tr. 74, 101).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong đời sống thường ngày và trong hộ niệm, người ta thường chứng kiến người bệnh thập tử nhất sinh bỗng nhiên hồi tỉnh, ăn uống nói cười. Trong sách Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp (trang 185), Thầy Diệu Âm chia sẻ về sự hiển ứng cảm ứng đạo giao qua trường hợp cụ thể:
"Thường thường trong các cuộc Hộ Niệm Vãng Sanh, chư vị đồng tu dễ chứng kiến được những sự hiển ứng này. Sự hiển ứng xuất hiện dưới rất nhiều dạng thức khác nhau. Ví dụ: Một người bệnh ung thư, đáng lẽ phải chịu đau đớn dữ dội, nhưng khi Niệm Phật thì tự nhiên không còn đau đớn nữa. Cụ Lưu Lầu ở Canada vừa mới Vãng Sanh ngày 15/10/2008 là một ví dụ cụ thể. Ngày 11/9/2008, khi còn nằm trong bệnh viện, bác sĩ báo cho gia đình biết là Cụ sắp chết. Cụ bị đau đớn dữ dội. Hễ hết than đau thì liền mê man bất tỉnh (vì tác dụng của thuốc morphine). Nhưng khi xuất viện đem về nhà để Hộ Niệm, chúng tôi yêu cầu giảm tối đa thuốc morphine, thì ngay đêm đầu tiên Niệm Phật, cụ đã tỉnh lại liền. Sau khi bị ói ra một chút, cụ ăn liền hai tô cháo và không cảm thấy đau đớn nhiều nữa."
Sau khi tỉnh táo lại, người bệnh tiếp tục được hộ niệm, dặn dò gia đình và tha thiết phát nguyện vãng sanh:
"Sau đó, Cụ tiếp tục tỉnh táo để Niệm Phật, vui vẻ nói chuyện, dặn dò con cháu Niệm Phật, dạy người nhà làm thiện, làm lành, v.v... Những ngày sau đó Cụ còn đi lại, thỉnh thoảng đùa vui, và con cháu quây quần chung quanh để nghe cụ nói chuyện. Cụ thường tự phát nguyện rằng, Cụ quyết lòng Vãng Sanh, không để lạc đường, Vãng Sanh xong rồi sẽ về cứu độ tất cả những người đã đến giúp Cụ Vãng Sanh. Có khi Cụ còn bảo con cháu dẫn đi dạo vườn để ngắm cảnh. (Nên nhớ đây là tự nhiên được giảm đau chứ không phải là dùng thuốc morphine nữa đâu. Dùng nhiều chất morphine sẽ bị mê man bất tỉnh, một trạng thái rất nguy hiểm đối với người muốn Vãng Sanh)."
Thầy khẳng định giá trị to lớn của việc hộ niệm đúng pháp:
"Niệm Phật và cẩn thận sự Hộ Niệm thì được Vãng Sanh vững vàng, dễ dàng."
Sự tỉnh táo lạ thường đó chính là do Phật lực gia trì khi người bệnh phát khởi tín nguyện chân thành. Trong sách Hành Theo Ấn Tổ (48 Tọa Đàm), Tọa Đàm 14 (trang 91), Thầy nhắc nhở người bệnh không được sinh tâm ỷ lại:
"Nếu mình thực sự muốn tới đây để niệm Phật cầu vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, lại đúng dịp chúng ta đang khai thác triệt để lời khai thị của ngài Ấn Quang, thì đây là cơ hội để giác ngộ kịp thời. Lời khai thị của ngài Ấn Quang có trọng tâm là mau mau cứu người sắp sửa rời bỏ cái báo thân này đừng lạc qua các thế giới khổ đau, mà trực tiếp vãng sanh đi về miền Tịnh Độ. Cho nên, nếu thực hiện đúng, mình sẽ được Phật gia trì. Với tình trạng của anh Hai nếu không phải là Phật gia trì, thì nhất định không cách nào anh có thể đi đứng được, không thể nào anh tỉnh táo được. Mà anh được tỉnh táo như ngày hôm nay là do Phật lực gia trì. Được Phật lực gia trì, nếu muốn tiếp tục hưởng sự gia trì cho viên mãn thì nhất định anh phải thực hiện Tín Nguyện Hạnh cho đúng, cho vững 100%, không được sơ suất nữa..."
Người bệnh không được nuôi dưỡng ý nghĩ chần chừ khi thấy mình khỏe lại:
"Nếu bây giờ bị bệnh mà còn nghĩ rằng: “Chưa sao đâu!... Chờ 1 tháng nữa, 2 tháng nữa rồi mới tính!”… Thì theo ngài Ấn Quang nói, ý nghĩ này là đại Vọng Niệm!"
Thầy dặn dò sâu sắc về hiểm họa mất phần vãng sanh nếu lầm tưởng sự tỉnh táo hiện tại sẽ kéo dài mãi:
"Do đó, tự mình phải quyết định dứt khoát. Đã quyết lòng đi về Tây Phương thì cái thân mạng này mãn càng sớm chừng nào càng mừng chừng đó. Càng tạo cho mình một điều kiện trợ duyên tốt chừng nào càng an toàn chừng đó. Đừng nghĩ rằng bây giờ đang tỉnh táo, thì lúc nằm xuống mình vẫn tiếp tục tỉnh táo như vậy. Không đâu! Nên nhớ, chỉ cần một vọng niệm khởi lên, thì quang minh của A Di Đà Phật biến mất, chư vị oán thân trái chủ đang chực chờ từng giờ từng phút để đòi lại những oán hận của họ trong nhiều đời nhiều kiếp. Ách nạn không phải đơn giản đâu!..."
Người niệm Phật cần sự tỉnh táo sáng suốt đến giây phút cuối cùng để niệm câu Phật hiệu theo Phật về Tây Phương. Trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 4), Tọa Đàm 191 (trang 235), Thầy cảnh báo về sự mê man do thuốc giảm đau gây ra:
"Chích thuốc morphine ở nước ngoài dễ lắm, có yêu cầu là được chích liền. Chích xong thì người bệnh nằm im lìm, có vẻ thoải mái lắm. Người đời thường tưởng vậy là được chết an lành. Có nhiều người cầu mong được chết an lành, điều này dễ lắm, không có gì khó khăn đâu. Trong bệnh viện có sẵn những mẫu giấy tờ, người bệnh chỉ cần ký vào yêu cầu dùng chất morphine để tránh bị đau đớn là xong. Khi được chích morphine vào thì người bệnh liền bị mê man bất tỉnh không còn biết gì nữa cả, nghĩa là không còn có cảm giác gì đau đớn, gọi là được chết an lành. Người nào muốn vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, mà bị rơi vào tình trạng mê man bất tỉnh này, thì vô phương thành tựu, dẫu có được hộ niệm thì cũng chỉ là chuyện hình thức mà thôi."
Thầy dẫn lời dạy của Hòa Thượng Tịnh Không về ba điều kiện quyết định sự vãng sanh:
"Hòa Thượng Tịnh Không dạy, người muốn được vãng sanh thì phải hội đủ 3 điều kiện:"
"- Đầu tiên là tỉnh táo, không được mê man bất tỉnh. Mê man bất tỉnh thì mất điều đầu tiên. Bị mất điều kiện đầu tiên thì khỏi cần nói đến những điều khác làm chi."
"- Điều thứ hai là gặp được thiện trí thức chỉ điểm. Thiện tri thức này chính là người hộ niệm. Người không biết hộ niệm không thể đóng vai thiện tri thức đúng nghĩa đối với người niệm Phật. Không biết chư vị đã lo đến vấn đề hộ niệm hay chưa? Nhiều người bình thường tu hành có vẻ cao siêu lắm, đến cuối đời nghe đến hộ niệm thì lo sợ, thấy ban hộ niệm đến thì tìm cách giấu bệnh trạng của mình đi, âm thầm trốn vào bệnh viện để chạy chữa cầu may."
"- Điều thứ ba là người bệnh phải phát khởi niềm tin, làm đúng theo lời hướng dẫn của ban hộ niệm, quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Mười niệm tất sanh đòi hỏi điều kiện này. Chúng ta ở đây củng cố niềm tin trước rồi, hằng ngày có nguyện vãng sanh rồi, nói mãi với nhau về hộ niệm rồi. Chúng ta đã chuẩn bị trước, quyết lòng niệm Phật cầu vãng sanh, một hướng huân tu lâu bền để sau cùng dễ được phước phần vãng sanh. Tất cả đều phải cố gắng, phải vươn lên, chứ đừng quá chủ quan rằng tu hành như thế này là đủ để sau cùng được vãng sanh ngon lành. Nên nhớ cho, ỷ lại đồng nghĩa với thất bại. Nghiệp chướng của chúng ta không nhỏ đâu, chỉ cần một niệm bất cẩn, tự thị là tạo đủ duyên cho nghiệp báo hiện hành, lúc đó chưa chắc sẽ sáng suốt xử lý đó nhé. Tất cả đều nên chuẩn bị trước, đừng để quá trễ."
Nhiều người thấy người bệnh tỉnh lại thì liền mừng rỡ, nảy sinh tâm lý mong cầu hết bệnh để sống thêm. Trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 1), Tọa Đàm 012 (trang 118), Thầy phá tan sự ngộ nhận này:
"Câu 8(i): Người được hộ niệm nếu không được vãng sanh thì cũng hết bệnh."
"Đúng không chư vị? – [✗ Sai]. Câu này hoàn toàn sai. Câu này hoàn toàn sai. Có nhiều người nói rằng, kêu người ta tới hộ niệm, hộ niệm nhờ Phật gia trì cho mình hết bệnh. Nếu một người muốn vãng sanh Tây Phương Cực Lạc mà cứ thầm cầu hết bệnh, thì dẫu cho có 1.000 người tới hộ niệm cho họ, họ ra đi thân xác cũng cứng ngắc, mặt mày cũng tái xanh, sắc tướng cũng không có gì vui tươi cả. Vì sao một đời niệm Phật mà sau cùng họ bị như vậy? Vì cả một đại pháp của Đức Thế Tôn để cứu độ chúng sanh vãng sanh thành Phật, họ lại đem đại pháp đó vùi dập vào cái thân xác bất tịnh này. Sai là sai chỗ này vậy."
Thầy giảng giải tường tận về đạo lý chuyển biến nghiệp lực:
"Nguyện lực mạnh sẽ thắng nghiệp lực, nghiệp lực thua thì nghiệp chướng phải lui, nghiệp chướng lui thì có bệnh mà hình như không bệnh. Đó là đạo lý “Vạn Pháp Duy Tâm Tạo”, chứ không phải cầu xin hết bệnh mà được hết bệnh."
Trong những giờ phút đối mặt với cơn vô thường, thần thức người bệnh rất dễ chao đảo. Người hộ niệm cần theo dõi sát sao từng nét mặt. Trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), Tọa Đàm 056 (trang 77), Thầy hướng dẫn:
"Hôm nay nhắc nhở người hộ niệm cần tế nhị quan sát những diễn biến trên sắc mặt của người bệnh, để kịp thời biết được sự chuyển biến về tinh thần hầu tìm cách hóa giải. Khi đi hộ niệm nhiều rồi thì chư vị sẽ có kinh nghiệm này. Lúc lâm chung nhiều khi sắc mặt người bệnh chuyển biến từ trạng thái này qua trạng thái khác: lúc vui, lúc buồn, lúc tịnh, lúc ngơ ngơ ngẩn ngẩn, lúc hãi hùng sợ sệt, v.v… Người trưởng ban hộ niệm nên nhạy bén quan sát để sớm nhận ra vấn đề hầu kịp thời hóa giải nếu cần. Ví dụ, đang niệm Phật, người bệnh bỗng dưng mở mắt trân tráo nhìn cái gì đó với trạng thái bất thường. Người hộ niệm phải nghĩ rằng có lẽ có sự cố gì đây, tùy theo nét vui hay buồn, tịnh hay loạn của người bệnh mà kịp thời khuyến tấn, vỗ về họ."
Mục đích chính của hộ niệm là nâng đỡ tinh thần người bệnh thức tỉnh:
"Pháp Hộ Niệm chính yếu là cố gắng vực tinh thần người bệnh lên, sáng suốt ra, vững mạnh dậy."
Sự thức tỉnh này giúp hóa giải cơn khủng hoảng:
"Lời khai thị vô cùng đơn giản, nhưng có thể vực tinh thần Dì Út dậy. Tinh thần được vực dậy thì Dì Út tỉnh táo liền."
Cùng với việc vực dậy tinh thần, việc sám hối với oán thân trái chủ trong lúc còn tỉnh táo là điều mấu chốt. Cũng trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), Tọa Đàm 067 (trang 192), Thầy nhấn mạnh:
"Người bệnh phải kiệt thành sám hối lỗi lầm là điểm chính yếu để sự điều giải nạn oán thân trái chủ được thành công. Người nào tự cho mình là hiền lành, không từng làm nên tội chướng, không chịu thành tâm sám hối lỗi lầm, thì thôi chịu thua, không thể nào điều giải oán nạn cho họ được. Cuộc hộ niệm đến đây coi như thất bại, dù ban hộ niệm có cố gắng cũng khó tìm được một tia sáng thành công. Vì thế, mong chư vị phải nhớ là sẵn sàng sám hối, thành tâm sám hối tội chướng."
Sự chân thành sám hối tạo cơ duyên cho ban hộ niệm điều giải thành công:
"Người hộ niệm muốn điều giải oán thân trái chủ luôn luôn phải cần đến điều kiện là người bệnh phải thành tâm sám hối lỗi lầm. Người bệnh nói lên được lời sám hối là khởi duyên cho người hộ niệm điều giải. Người bệnh phải thành tâm sám hối, phải nhận lấy những điều sai lầm của chính mình, và tha thiết niệm Phật quyết lòng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc để có năng lực cứu độ chúng sanh."
Thầy dặn dò ban hộ niệm phải giải thích rõ lý nhân quả để người bệnh thành tâm sám hối:
"Mong chư vị nhớ cho là phải thành tâm khuyên nhủ. Trước khi điều giải cần khuyên người bệnh thành tâm sám hối. Cần giải thích cho người bệnh biết rằng, chính Bác, chính Cụ đã sơ ý nhiều lần làm điều sai lầm, não loạn hay sát hại chúng sanh đưa đến bây giờ gặp lấy chuyện khó khăn này. Đây là vấn đề nhân quả của chính mình, xin đừng than trời trách đất mà hãy thành tâm sám hối mới có thể hóa gỡ ra được. Nhờ người bệnh biết thành tâm sám hối mà người hộ niệm có thể điều giải giúp cho họ vượt qua ách nạn của oán thân trái chủ vậy."
Đồng thời, đối với chư vị oán thân trái chủ, người hộ niệm phải luôn giữ tâm từ bi thương xót:
"31(c): Có tâm kính cẩn, từ bi, thương xót, cầu mong cho họ cùng được giải thoát."
"Đúng không? – [✓ Đúng]. Người hộ niệm luôn luôn phải nhớ đến cái tâm này. Có nhiều người nói rằng, đi hộ niệm thì chúng ta phải giải nạn cho người bệnh, mà giải nạn cho người bệnh thì gây sự với các vị oán thân trái chủ, sau cùng các vị oán thân trái chủ đó sẽ tìm cách hãm hại người hộ niệm để trả thù. Vì nghĩ vậy nên nhiều người không dám đi hộ niệm. Thật là một ý nghĩ vô cùng sai lầm! Mình không dám đi hộ niệm giúp cho người khác, thì sau cùng cũng không có ai dám đến hộ niệm giúp cho mình. Mình sợ oán thân trái chủ của người bệnh hại mình, thì sau cùng mình tự trói tay cho oán thân trái chủ của mình hãm hại mình còn thê thảm hơn nữa! Thực ra, hộ niệm là tạo công đức, tạo phước lành, giúp cho cả người bệnh và chư vị trong pháp giới hữu duyên cùng thoát nạn, chứ đâu phải gây oán thù với ai. Người hộ niệm có cái tâm kính cẩn, từ bi, thương xót oán thân trái chủ."
"Ta thương xót họ mà khuyên nhủ, ta kính cẩn họ mà niệm Phật, ta muốn họ được giải thoát mà điều giải."
Khoảng thời gian tỉnh táo trước khi ra đi là cơ duyên quý báu để dồn toàn lực niệm Phật. Trong sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2), Lá Thư Số 26 (trang 22), Thầy khuyên nhủ người bệnh phải giữ vững ý chí thức để niệm Phật:
"Đừng sợ mất ngủ mà hãy sợ ngủ nhiều bị mê. Nếu có ý chí vững như vậy, sẽ thấy khoẻ lại, tỉnh táo lại liền."
Đồng thời, gia đình phải giữ gìn không gian thanh tịnh, cách ly mọi sự thăm hỏi làm xáo trộn tâm trí người bệnh:
"Một điều quan trọng nữa là nếu quyết tâm cứu độ người thân thì phải cứng rắn không cho phép người ngoài tới thăm hỏi, an ủi, than thở. Những chuyện này vô ích, mà ngược lại còn có hại cho huệ mạng người thân của mình. Tốt nhứt dán ngay một tấm bảng trước cửa phòng “Xin thành tâm niệm Phật, miễn thăm hỏi, cảm ơn”. Khách khứa tới tiếp ở phòng khác rồi mời họ về. Cứng rắn đừng vị nể mà ân hận! Khuyên bác đừng sợ chết, nếu số phần chưa mãn thì chắc chắn qua khỏi cơn bệnh liền, nếu số phần đã mãn thì dễ được an nhàn ra đi trong quang minh của Phật, nghĩa là vãng sanh."
Thầy giải thích vì sao có người ra đi tỉnh táo, có người lại hôn mê:
"Người thành tâm niệm Phật thì ra đi lúc nào cũng tỉnh táo. Người niệm Phật mà ra đi trong hôn mê là vì niệm Phật không thành tâm nên không tương ưng với quang minh của Phật, không phá nổi nghiệp chướng nên bị nghiệp chướng hành hạ tới hôn mê. Có người niệm một hai ngày mà được an nhiên tỉnh táo đến giây phút cuối cùng là vì họ thành tâm. Có người niệm nhiều năm mà vẫn bị hôn mê bất tỉnh là tại vì chính họ có vấn đề! Miệng thì niệm leo lẻo mà tâm thì không tin hoặc niệm thử, niệm thăm dò, hoặc niệm mà không muốn đi về Tây phương thì không được phần."
Thầy khuyên người niệm Phật buông bỏ mọi tâm niệm so đo, chân thành niệm Phật cầu vãng sanh:
"Như vậy, điều quan trọng là bắt đầu từ hôm nay phải bỏ liền những tính ích kỷ, nhỏ nhen đi, nhứt thiết chân thành, vững lòng tin tưởng, đừng nghi ngờ nữa, thì ngày lâm chung dễ dàng được tỉnh táo, được vãng sanh."
Để người học Phật nắm vững các nguyên tắc căn bản về điều kiện người bệnh được hộ niệm, trong sách Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm (Phần Trắc Nghiệm), Chương 4, Câu 2 (trang 74), Thầy đã đưa ra câu hỏi tổng quát:
Điều kiện để người bệnh được hộ niệm:
"a) Người đại diện gia đình của người bệnh đã liên lạc mời BHN, và gia đình người bệnh phải chấp thuận những quy định của BHN dành cho gia đình người bệnh thì mới được hộ niệm. [✓ Đúng]"
"b) Chính người bệnh phải đến thỉnh mời BHN thì mới được hộ niệm. [✗ Sai]"
"c) Chờ khi bị bệnh nặng mới được hộ niệm. [✗ Sai]"
"d) Người bệnh đến lúc mê man bất tỉnh hay đang hấp hối mới được hộ niệm. [✗ Sai]"
"e) Người bệnh vẫn còn tỉnh táo thì mới có thể hộ niệm được. [✓ Đúng]"
"f) Tất cả người bệnh nào đã liên lạc với BHN thì đều được hộ niệm. [✗ Sai]"
"g) Người chưa bị bệnh nặng, nhưng cần nên chuẩn bị trước, vì hộ niệm là pháp hướng dẫn cho người bệnh tự thực hiện để được vãng sanh. [✓ Đúng]"
"h) Tình cảm tốt giữa gia đình người bệnh và BHN là điều quan trọng để được hộ niệm. [✗ Sai]"
Và về sự khai thị trong hộ niệm, tại Chương 6, Câu 2 (trang 101) của sách trắc nghiệm, Thầy xác định rõ tác dụng của khai thị khi người bệnh còn tỉnh táo:
Tổng quát về sự khai thị trong pháp hộ niệm:
"a) Hướng dẫn, khuyến tấn người bệnh niệm Phật cầu vãng sanh. [✓ Đúng]"
"b) Điều giải oán thân trái chủ, hóa gỡ những vướng mắc của người bệnh, giúp họ niệm được câu Phật hiệu để vãng sanh. [✓ Đúng]"
"c) Hướng dẫn gia đình biết cách hộ niệm và chăm sóc người bệnh. [✓ Đúng]"
"d) Khai thị có được tác dụng chỉ khi người bệnh còn sáng suốt. [✓ Đúng]"
"e) Sự khai thị rất quan trọng, đóng góp rất lớn vào thành quả vãng sanh của người bệnh. [✓ Đúng]"
"f) Khai thị thiếu cẩn trọng, sai lệch có thể ảnh hưởng xấu cho việc vãng sanh. [✓ Đúng]"
"g) Ánh mắt, cử chỉ, giọng nói, nội dung, tâm lý… luôn luôn phải được chuẩn bị trước khi khai thị mới tốt. [✓ Đúng]"
"h) Người bệnh đã rơi vào trạng thái hôn trầm hay nửa mê nửa tỉnh rất khó tiếp nhận được sự khai thị. [✓ Đúng]"
"i) Chờ đến khi người bệnh sắp chết thì mời BHN đến khai thị là đúng lúc nhất. [✗ Sai]"
"Niệm Phật Vấn Đáp 07: Sự Cảm Ứng!"
"Tọa Đàm 14: Vô Thường Tấn Tốc - Giữ Vững Tín Nguyện Hạnh Cầu Vãng Sanh"
"Tọa Đàm 191: Di Chúc Hộ Niệm – Phân Chia Tài Sản, Giảm Chế Morphine & Tránh Buồn Khóc"
"Tọa Đàm 012: Phá Ngộ Nhận Tu Lâu Năm Không Cần Hộ Niệm, Cảnh Giới Tam Muội & Cấm Kỵ Cầu Hết Bệnh"
"Tọa Đàm 056: Người Hộ Niệm Có Thể Giúp Người Bệnh Những Gì?"
"Tọa Đàm 067: Đối Với Oán Thân Trái Chủ, Người Hộ Niệm Phải Làm Gì?"
"Lá Thư Số 26: Cứu người như cứu lửa!"
"Chương 4: Gia Đình Người Bệnh – Câu 2"
"Chương 6: Hướng Dẫn - Khai Thị – Câu 2"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →