Về vấn đề có nên tụng kinh Địa Tạng, Chú Đại Bi hay chỉ chuyên nhất niệm Phật hiệu khi hộ niệm, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp trang 25, 43; Khuyên Người Niệm Phật Tập 2 trang 126, Tập 4 trang 11, 81; Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm Giảng Ký: Tọa Đàm 072, 095 Quyển 2, Tọa Đàm 099 Quyển 3, Tọa Đàm 155, 176 Quyển 4).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong cuốn Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 4), trước câu hỏi tại Vấn Đề 38: Vì sao niệm Phật bị tẩu hỏa nhập ma? (Câu 38c: Vì niệm Phật mà trước đó không trì chú để trị ma chướng, nên bị tẩu hỏa nhập ma), Thầy Diệu Âm giải thích rõ công năng và điều kiện khi trì chú của Bồ Tát (trang 52):
"(c): Vì niệm Phật mà trước đó không trì chú để trị ma chướng, nên bị tẩu hỏa nhập ma."
""
"Đúng không chư vị? – [✗ Sai]. Những Chú Ngôn của Phật, Bồ Tát đều có giá trị trừ ma, tiêu nghiệp. Đúng đấy. Nhưng trì chú cần đến tâm hoàn toàn thanh tịnh thì Chú mới linh. Người phàm phu tâm quá loạn động, thì trì Chú cũng không dễ gì có hiệu quả. Chú Đại Bi của Đức Quán Thế Âm, thì Chú Ngôn này gói trọn cả cái hạnh tầm thanh cứu khổ cứu nạn của Ngài. Nếu một người chí thành chí kính trì tụng thì Chú tất linh, giải được ách nạn tại chỗ, còn vô lượng vô biên chướng nạn khác vẫn đang chờ đấy chứ không phải tụng một câu Chú là sạch nghiệp."
"Nếu Ngài thì tầm thanh cứu khổ, còn ta thì tạo thanh báo đời, thì Chú nào trị nổi cái tâm tiếp tục tạo nghiệp. Chú Đại Bi, Chú Chuẩn Đề, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát v.v… đều có mục đích tương tự nhau, nghĩa là những Chú Ngôn của Bồ Tát, có năng lực tiêu trừ nghiệp chướng, phải có tâm thành mới linh, nhưng dù sao đây cũng là con đường tự lực quyết phá nghiệp để cầu chứng đắc."
Thầy giải thích vì sao thánh hiệu A Di Đà Phật chính là Đại Chú Vương tối thắng vượt trên tất cả chú ngôn (trang 49 – 50):
"Thánh hiệu A Di Đà Phật là danh hiệu của mười phương ba đời tất cả chư Phật. Niệm A Di Đà Phật là niệm Chú Ngôn của chư Phật trên mười phương pháp giới. Chú Ngôn của chư Phật nhất định phải mạnh hơn Chú Ngôn của chư Đại Bồ Tát. Cho nên câu A Di Đà Phật là đại chú vương, là “Pháp Giới Tạng Thân”, nghĩa là kho tàng của pháp giới, chứa trọn cả ba tạng kinh điển chứ không còn là Chú Ngôn bình thường. Câu A Di Đà Phật có năng lực cứu độ chúng sanh thoát vòng trần lao, vãng sanh thành đạo. Nhưng chỉ vì chúng sanh thiếu thiện căn nên không tin, không niệm đó thôi."
"Chư Tổ thường dạy rằng, tụng Kinh không bằng tụng Chú, tụng Chú không bằng Niệm Phật, Niệm Phật là tối thắng. Niệm A Di Đà Phật là tối thắng trong pháp tối thắng. Đường thành đạo của chúng ta là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Xin đừng nên phân vân chao đảo mà luống qua cơ hội thành đạo này."
Trong cuốn Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, tại mục Hộ Niệm Vấn Đáp 13, Thầy giải đáp câu hỏi hộ niệm có cần tụng kinh đọc chú và khẳng định câu Phật hiệu trực tiếp nhất để giúp người lâm chung chuyển cảnh giới (trang 44):
"Đọc Chú Đại Bi, tụng Bát Nhã Tâm Kinh, tụng kinh A Di Đà khi Hộ Niệm không có gì sai cả, nhưng thật sự để trực tiếp giúp người lâm chung Vãng Sanh thì câu Phật hiệu là mạnh nhất, thẳng nhất, trực tiếp chuyển cảnh giới cho người ra đi. Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy 10 niệm tất sanh. 10 niệm này là niệm 10 lần danh hiệu A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Hãy quyết tâm giúp cho người sắp chết niệm cho kỳ được 10 câu Phật hiệu cầu Vãng Sanh."
Thầy phân tích trong tình huống cấp bách tứ đại phân ly, người bệnh khó lòng nhất tâm tụng chú dài (trang 43 – 44):
"Tụng Chú Đại Bi giải ách nạn, tiêu nghiệp chướng, tốt chứ không có gì sai. Nhưng trong một thời gian quá ngắn ngủi và cấp bách này, người bệnh khó có thể tụng được để tiêu nghiệp. Dù có tụng được cũng khó nhất tâm trong tình huống quá cấp bách, tứ đại phân ly đau đớn cùng cực! Khó nhất tâm tụng niệm thì làm sao tiêu nghiệp!? Vấn đề là ở chỗ này."
"Niệm sáu chữ "Nam mô A Di Đà Phật" mà Phật còn sợ dài, còn sợ cho người sắp chết khó niệm được, nên chư Phật, cũng như chư Tổ khuyên hãy niệm 4 chữ "A Di Đà Phật". Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật cũng dạy 4 chữ "A Di Đà Phật". Ngắn gọn để dễ Vãng Sanh hơn. Tại sao chúng sanh không chịu vâng lời Phật dạy!?..."
Thầy khẳng định câu A Di Đà Phật là nguồn vãng sanh thành đạo cho người ra đi (trang 45):
"Tụng kinh, tụng chú trong những lúc này không mạnh bằng câu Phật hiệu. Chư Tổ thường xuyên nhắc nhở rằng, tụng kinh không bằng tụng chú, tụng chú không bằng niệm A Di Đà Phật. Nhất là trong lúc Hộ Niệm, câu A Di Đà Phật là tất cả nguồn Vãng Sanh thành đạo vậy."
Tại mục 8 trong Lá Thư Số 37 của bộ sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 2), Thầy Diệu Âm thuật lại lời dạy của Hòa thượng Tịnh Không trước sự việc phòng dưới hộ niệm còn phòng trên tụng kinh Địa Tạng (trang 126 – 127):
"8) Khi lâm chung có cần tụng kinh không?"
""
"Hộ niệm là chính, không nên tụng kinh. Tụng kinh là để tu hành hiểu đạo, cầu an, cầu siêu. Cầu an thì tụng trong những lúc còn sống bình thường hay lúc đau bệnh. Cầu siêu là tụng sau khi đã chết, chứ không thể tụng kinh ngay lúc đang lâm chung. Có một lần, một đồng tu kể lại rằng khi hộ niệm cho một người lâm chung có người quyết định tụng kinh Địa Tạng, vì họ nghĩ rằng để giải nghiệp cho bệnh nhân dễ vãng sanh, cho nên đưa đến tình trạng là phòng dưới thì đang hộ niệm, phòng trên thì tụng kinh Địa Tạng. Chuyện này được hỏi đến HT Tịnh Không, Ngài nghiêm khắc nhắc lại rằng, lúc lâm chung chỉ được niệm Phật và chỉ nên niệm đơn giản bốn chữ A Di Đà Phật, ngoài ra không được làm điều gì khác. Tụng kinh mục đích là để cho bệnh nhân tụng theo, hiểu nghĩa kinh để thực hiện theo lời Phật dạy."
Thầy phân tích tâm trạng người bệnh lúc nguy kịch không thể theo dõi kinh dài (trang 127):
"Lúc lâm chung làm sao người bệnh có thể nghe được lời kinh để tụng theo? Tụng kinh Địa Tạng, theo Ngài nói, nếu biết rằng người đó không được vãng sanh, thì khoảng một tuần lễ sau mới tụng để giải bớt nghiệp chướng cho họ và cũng để gieo duyên Phật pháp cho thần thức người đó. Còn đang lúc hấp hối hay lâm chung thì thần trí rối bời, tâm thần đau nhức, oan gia trái chủ trùng trùng tấn công, v.v... làm sao thần thức họ bình tĩnh để tụng kinh. Ngay trong phút tối nguy kịch, chỉ cần một tích tắc tâm bị loạn là có thể bị rơi vào trạng thái nguy hiểm."
Làm rõ thêm điều này, trong cuốn Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp tại mục Hộ Niệm Vấn Đáp 07, Thầy đưa ra năm điều so sánh cụ thể giữa việc tụng kinh và niệm sáu chữ hồng danh (trang 26 – 27):
"Tụng kinh Địa Tạng thì giống như niệm Phật. Hình thức có khác nhưng mục đích đều để hóa giải oan gia trái chủ, giải bớt nghiệp cho người bệnh. Có thể liệt kê ra vài điều cụ thể hơi khác sau đây:"
""
"1/ Tụng kinh thì cần phải có lòng chân thành trì tụng, lúc tụng phải thành khẩn nhiếp tâm vào lời kinh mới có hiệu dụng, nếu tụng không chân thành thì không có hiệu dụng lắm. Còn niệm Phật thì chỉ có sáu chữ nên rất dễ nhiếp tâm."
""
"2/ Tụng kinh dài quá thường bị lộn, bị quên làm tâm dễ xao lãng, lo ra... còn niệm Phật thì không thể quên được, tâm không lo, do đó dễ nhiếp tâm niệm Phật, cầu Phật gia trì, tiếp độ, dễ dàng cảm ứng."
""
"3/ Tụng kinh thì người bệnh không thể tụng theo được, khó hiểu được ý kinh và lời kinh. Còn niệm Phật thì người bệnh có thể niệm theo dễ dàng, hiểu dễ dàng."
"4/ Tụng kinh rất khó khai thị, hướng dẫn, còn niệm Phật thì khai thị hướng dẫn thường xuyên, nhắc nhở kịp thời, thấy chướng nạn xảy ra kịp thời khai thị, hướng dẫn, điều giải, vỗ tay, hoan hô, khích lệ... làm cho người bệnh lên tinh thần, thấy hết khổ, hết sợ chết, vui vẻ cầu Vãng Sanh."
""
"5/ Tụng kinh gieo duyên Phật pháp thì được, chứ trực tiếp cứu độ Vãng Sanh thì rất là phiêu phỏng. Còn niệm Phật thì trực tiếp cứu độ Vãng Sanh. Nếu niệm có yếu đi nữa thì cũng kết duyên Phật pháp. Như vậy, rõ ràng, niệm Phật thì có lợi (Vãng Sanh) hoặc ít ra cũng được huề vốn, còn tụng kinh nếu tốt thì được huề vốn (nghĩa là trở lại làm người), còn không thì bị lỗ. Niệm Phật vẫn tốt hơn."
Thầy nhắc nhở điều then chốt mà người trợ niệm cần ghi nhớ (trang 27):
"Nên nhớ, mười niệm tất sanh là niệm mười câu Phật hiệu trước phút xả bỏ báo thân, chứ không phải tụng mười bộ kinh."
Trong Lá Thư Số 71 của bộ sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 4), Thầy Diệu Âm giải thích việc tụng kinh Địa Tạng giải nghiệp và sự thù thắng của pháp môn đới nghiệp vãng sanh (trang 81 – 83):
"Câu hỏi khác: Đi hộ niệm, tụng kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện có sai không?"
""
"Trả lời: Không sai gì cả. Tụng kinh Địa Tạng giải nghiệp rất tốt, nhưng chỉ nên tụng trong lúc còn tỉnh táo, chứ không nên tụng lúc lâm chung, và chỉ tụng một vài lần là đủ rồi. Còn hầu hết thời gian thì chú tâm vào câu A Di Đà Phật để cứu người vãng sanh. Như vậy, khi đi hộ niệm mà bệnh nhân tha thiết được nghe kinh Địa Tạng, em đã mời Tăng Ni về tụng một biến. Giải quyết như vậy là rất hay, hợp tình, hợp lý, không có điều gì sai trái. Hơn nữa, khi hộ niệm, chúng ta không được cưỡng bức hay làm điều gì trái ý người bệnh. Hãy cố gắng giải quyết những khó khăn của bệnh nhân trước, những mối âu lo trong lòng được giải tỏa, thì họ mới vui vẻ an tâm niệm Phật cầu vãng sanh."
Thầy phân tích chỉ lo giải nghiệp thì chưa thoát khỏi luân hồi lục đạo (trang 82 – 83):
"Tụng kinh Địa Tạng Bồ Tát là để giải nghiệp, làm cho nghiệp nhẹ đi. Một người bị nghiệp nặng phải bị đọa địa ngục, thành tâm trì tụng kinh Địa Tạng có thể vượt thoát ách nạn địa ngục, sanh vào ba đường thiện trong lục đạo, nghĩa là vẫn còn sanh tử luân hồi, chứ không phải vượt qua được tam giới. Có nhiều người cho rằng tụng kinh Địa Tạng, tụng chú Đại Bi, tụng kinh Phổ Môn, tụng kinh Từ bi Thủy Sám... thì giải nghiệp, giải được nghiệp chướng thì được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Không phải vậy đâu. Giải nghiệp thì tốt, nhưng cứ lo giải nghiệp để mong thoát vòng sanh tử thì phải trải qua vô lượng kiếp tu hành, còn về Tây Phương Cực Lạc để một đời bất thối thành Phật là do Tín Nguyện Trì danh, mười niệm tất sanh, ai cũng có thể thực hiện được trong đời này. Đây là lời thệ độ sanh của đức A Di Đà Phật. Xin đồng tu xem lại kinh điển thật kỹ sẽ rõ ràng chuyện này."
Thầy chỉ rõ sự khác biệt giữa tu phước báu Nhân Thiên và vãng sanh giải thoát (trang 84):
"Tình thực mà nói, thời mạt pháp này, hầu hết các pháp tu đều rơi vào cách tu phước báu Nhân Thiên, một mức tu thấp nhất trong kinh Quán Vô Lượng Thọ của Tịnh Độ tông mà thôi. Vì sao vậy? Vì không thể thoát ly tam giới lục đạo. Không thoát được tam giới thì dù lý luận có hay cho mấy, triết lý có cao diệu tới mây xanh thì kết quả cũng chỉ lần quần trong tam giới lục đạo để chịu sanh tử luân hồi. Trong khi đó người niệm Phật, chỉ cần trì giữ câu A Di Đà Phật mà an nhiên vãng sanh, vượt qua lục đạo, thành vị đại Bồ Tát ở cõi Tây Phương."
Cũng trong bộ sách Khuyên Người Niệm Phật (Tập 4), tại Lá Thư Số 64 gửi cô Lệ Tân, Thầy so sánh công đức trì tụng kinh Địa Tạng với đại nguyện vãng sanh Cực Lạc (trang 11 – 12):
"Khi hộ niệm, nếu bệnh nhân bị nghiệp chướng hiện hành, hoặc bị oan gia báo hại quá nặng, ta nên tụng vài biến kinh Địa Tạng để khai thị và giải nghiệp trước mắt cho họ. Đây là điều rất tốt. Nhưng nên tụng trong lúc còn tỉnh táo hoặc sau khi xong tang sự, chứ không nên tụng ngay giờ phút lâm chung. Giờ phút lâm chung phải quyết lòng niệm Phật trợ niệm để giúp cho bệnh nhân vãng sanh trước đã. Mọi chuyện khác sau đó mới được tính tới."
"So sánh giữa hai sự lợi ích, một là phước báu nhân thiên, hai là vãng sanh Tây phương Cực Lạc, thì vãng sanh Cực Lạc thù thắng hơn quá nhiều, thật là "bất khả thuyết" công đức. Vì phước báu trời người dù lớn tới đâu cũng chỉ giúp chúng sanh thoát khỏi tam đồ ác đạo, sanh trở lại làm người hoặc lên đến các cõi trời, vẫn còn trong tam giới, chứ chưa thoát vòng sanh tử, chưa ra khỏi lục đạo. Còn vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc thì không những qua khỏi tam giới lục đạo, thoát ly được sanh tử luân hồi, mà còn vượt qua khỏi thập pháp giới, trụ tại nhất chân pháp giới của Phật. Đây là điều bất khả tư nghì, không lời nào tán thán cho xứng vậy."
Tại mục Hộ Niệm Vấn Đáp 07 trong cuốn Niệm Phật – Hộ Niệm – Vãng Sanh Vấn Đáp, Thầy nhấn mạnh lợi lạc to lớn của việc đới nghiệp vãng sanh (trang 25 – 26):
"Khi Hộ Niệm, thì chúng ta niệm Phật, dùng công đức niệm Phật mà hồi hướng cho oan gia trái chủ thì cũng có tác dụng tương tự như đọc kinh Địa Tạng. Nhưng niệm Phật có lợi hơn vì được phần Vãng Sanh. Nghĩa là, vừa tiêu bớt nghiệp, nếu nghiệp không hết thì cũng được đới nghiệp Vãng Sanh. (Đới nghiệp Vãng Sanh nghĩa là còn nghiệp nhưng mang nghiệp đi Vãng Sanh). Còn tụng kinh Địa Tạng thì tiêu bớt nghiệp cho nhẹ bớt tội, nhẹ nhưng dễ gì hết, thành ra đành phải tùng theo nghiệp mà chịu sanh tử luân hồi. Có thể thoát địa ngục, chứ không được đới nghiệp Vãng Sanh Tây Phương, một đời thành tựu đạo quả."
Trong cuốn Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), tại Tọa Đàm 095 và 096 thuộc Chương 2, trước việc có đạo tràng phát tâm tụng Chú Đại Bi trong ba năm để sạch nghiệp rồi mới niệm Phật, Thầy Diệu Âm giảng giải về Chánh Hạnh và Trợ Hạnh (trang 456 – 457):
"Hai là, “Chánh Hạnh của người niệm Phật”. Đối ứng với Chánh Hạnh là Trợ Hạnh. Hành giả tu theo Pháp Môn Tịnh Độ, thì niệm Phật với đầy đủ Tín Nguyện Hạnh là Chánh Hạnh, ngoài ra thực hiện các pháp tu khác hỗ trợ vào gọi là Trợ Hạnh. Chư Tổ khuyến tấn chúng ta nên tu cả Chánh Hạnh lẫn Trợ Hạnh, gọi là “Chánh Trợ song tu”, mới vững vàng. Ví dụ, như vừa rồi có nghe tin một đạo tràng niệm Phật nào đó phát tâm quyết lòng tụng chú Đại Bi trong ba năm để tiêu sạch nghiệp rồi mới niệm Phật cầu vãng sanh. Có vị hỏi, quyết định như vậy là đúng hay sai? Diệu Âm trả lời, trong việc tu hành, quyết định như vậy không có sai trái."
Thầy phân tích cạm bẫy tự lực và nguy cơ biến trợ hạnh thành chánh hạnh (trang 457):
"Sau 3 năm người tu đã thành tựu con đường “Đoạn Hoặc Chứng Chơn” quá tuyệt vời. Nhưng nếu sau 3 năm mà chưa hết nghiệp thì sao đây? Hãy niệm thêm 3 năm nữa? Rồi thêm 3 năm nữa chăng?... Như vậy vô tình ta đã chọn đường tu “Tự Lực” chứ không còn “Nhị Lực” nữa. Tự lực tu chứng khó khăn lắm đấy. Nếu kết hợp một nửa tự lực, một nửa nhị lực thì đưa đến tình trạng xen tạp. Đối với Pháp Niệm Phật, xen tạp rất khó được vãng sanh. Hoặc giả, biến pháp diệt nghiệp làm chính, còn vãng sanh làm phụ. Niệm Phật trở thành là sự phụ trợ cho các pháp khác, vô tình biến chánh thành trợ, trợ thành chánh. Tu tập cách này cũng không khác với cách tự lực, nghĩa là niệm Phật để phá nghiệp là chính, chuyện vãng sanh trở thành phụ."
Thầy nhắc nhở lời dạy của Hòa thượng Tịnh Không về điều kiện tâm thanh tịnh khi trì chú và đọc kinh (trang 458 – 459):
"Hiểu được lý đạo, thực hành đúng pháp môn, thì niệm Chú Đại Bi tiêu trừ được vô biên tội chướng, còn hàng phàm phu tâm hồn vọng động, dùng tâm vọng động để tụng Chú thì khó có thể tiêu tai giải nghiệp như ý muốn được. Hòa Thượng Tịnh Không dạy rằng, khi tụng Chú mà từ đầu đến cuối tâm trí hoàn toàn thanh tịnh, định vào lời Chú, không có một mảy may tạp niệm xen vào, thì lời Chú mới có linh nghiệm. Năng lực này không dễ gì thực hiện đối với hàng phàm phu!... Còn tụng Chú mà nhớ điều này, nghĩ điều nọ, vọng tưởng lung tung thì không thể có kết quả được."
"Cũng như niệm Địa Tạng Bồ Tát, đọc tụng kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Vương có thể tiêu tai giải nạn. Nhưng Ngài nói, đọc tụng kinh Địa Tạng, chư vị phải hành theo hạnh của Địa Tạng Bồ Tát mới được. Hạnh của Địa Tạng Bồ Tát là gì? “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật. Chúng sanh độ tận, viên chứng Bồ Đề”. Hạnh này không phải hàng phàm phu làm được đâu nhé."
Trong cuốn Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 3), tại Tọa Đàm 099 thuộc Chương 2, Thầy Diệu Âm dùng hình ảnh quả bom nghiệp chướng để nhắc nhở người tu không nên tự lực phá nghiệp (trang 10 – 11):
"Những người mất niềm tin không thể vãng sanh Tây Phương Cực Lạc được. Tất cả đều do chính niềm tin xây dựng nên, đây là lời dạy của Tổ Sư Mộng Đông. Chỉ vì niềm tin không vững nên mới có sự xen tạp. Có một đạo tràng kia đang niệm Phật cầu vãng sanh, bây giờ đổi qua tụng chú Đại Bi 3 năm để giải hết nghiệp rồi sau đó mới niệm Phật. Người ta hỏi Diệu Âm như vậy đúng hay sai? Diệu Âm trả lời rằng, tụng Kinh tụng Chú của Phật thì đúng, chứ không thể nói sai được, nhưng đúng với những người không vững niềm tin vào câu A Di Đà Phật. Tìm cách giải nghiệp thì tốt trên phương diện phá nghiệp, chứ không phải là điểm mạnh trên đường vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Chư vị hãy nhớ lấy điểm này."
"Vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc là quyết lòng vững vàng dùng Tín Nguyện Hạnh chuyên nhất mà đi. Pháp Niệm Phật là pháp bao nghiệp, đới nghiệp, vượt qua nghiệp chướng để đi vãng sanh. Thành tựu của Pháp Niệm Phật nhờ vào cái niềm tin vững vàng, cái sức nguyện tha thiết và một lòng niệm câu A Di Đà Phật. Dùng Tín Nguyện Hạnh bao nghiệp chướng lại, không tạo thêm nghiệp mới, cũng đừng nên đụng chạm tới nghiệp cũ làm chi mà tạo duyên cho nghiệp nẩy sinh ra không tốt."
Thầy dặn dò sâu sắc về sự nguy hiểm khi cố tình đập phá nghiệp chướng (trang 6):
"Nghiệp chướng có thể ví như quả bom do chính mình tạo ra. Giờ này xin đừng cài hạt nổ vào, đừng bấm nút nó, hãy để nó nằm im một chỗ nào đó đi. Xin chư vị nhớ cho, đã gói lại rồi thì gói luôn đi nhé, đừng nên thỉnh thoảng mở ra xem thử, đừng ngứa ngáy tay chân lấy búa đập phá nó, đừng liệng vào bếp lửa để tiêu hủy nó, coi chừng nó nổ banh xác mình đó. Hễ phá nghiệp thì nghiệp phá mình. Không đủ khả năng phá nghiệp mà tìm cách phá nghiệp thì nguy hiểm lắm vậy!"
Trong cuốn Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 4), tại Tọa Đàm 176 thuộc Chương 3, đối với các câu trắc nghiệm (qq: Nên tụng nhiều Kinh, Chú để hỗ trợ; rr: Hộ niệm chỉ nên niệm câu Phật hiệu; s: Càng chuyên càng mạnh; tt: Xen tạp ngay lúc lâm chung là tối kỵ), Thầy Diệu Âm nhấn mạnh sự nguy hại của việc xen tạp kinh chú lúc lâm chung (trang 155 – 156):
"(qq): Nên tụng nhiều Kinh, Chú để hỗ trợ thì Pháp Hộ Niệm mới có thể mạnh được."
""
"Đúng hay sai ? – [✗ Sai]. Tụng nhiều Kinh Chú để hỗ trợ vào Pháp Hộ Niệm vô tình làm cho Pháp Môn Niệm Phật không còn chuyên nhất. Pháp Niệm Phật rất cần chuyên tinh, rất kỵ xen tạp. Niệm Phật là pháp "Nhất Tâm Bất Loạn", không được "Nhất Tâm Bất Loạn" thì cố gắng chuyên lòng niệm Phật cho thành thục, trong tâm chỉ còn câu Phật hiệu, thì đường vãng sanh mới vững vàng. Muốn được vậy, người niệm Phật phải chuyên nhất, một câu A Di Đà Phật niệm tới cùng để cầu nguyện vãng sanh là đúng. Tổ Triệt Ngộ dạy: “Nhất cú Di Đà, nhất đại tạng kinh...”, một câu A Di Đà Phật bao hàm cả một đại tạng kinh. Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy “Nhất hướng chuyện niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc”. Vậy thì người niệm Phật muốn tụng kinh điển hãy tụng một kinh A Di Đà, hoặc một kinh Vô Lượng Thọ đại diện tất cả kinh là đủ rồi, không cần thêm nữa. Nếu thêm nhiều quá thì bị xen tạp."
"Xen tạp khó đạt được niệm Phật thành thục, nên đường vãng sanh không vững."
Thầy dặn dò hộ niệm chỉ nên giữ câu Phật hiệu để giữ vững chánh niệm cho người bệnh (trang 156 – 157):
"(rr): Hộ niệm chỉ nên niệm câu Phật hiệu “A Di Đà Phật” để giữ chánh niệm cho người bệnh là tốt nhất."
""
"Đúng không chư vị? – [✓ Đúng]. Mình niệm:“A Di Đà Phật, A Di Đà Phật…” rồi khai thị:“Bác Sáu ơi!... Niệm A Di Đà Phật cầu về Tây Phương Cực Lạc nhé”. Nếu bác Sáu quyết lòng giữ chặt câu “A Di Đà Phật” mà niệm cầu xin vãng sanh, thì bác Sáu có hy vọng vãng sanh tràn trề, lưu lại tướng lành bất khả tư nghì."
"(s): Pháp Niệm Phật Vãng Sanh càng chuyên càng mạnh, càng xen tạp càng yếu."
""
"Đúng không? – [✓ Đúng]. Càng chuyên nhất càng mạnh, càng xen tạp càng yếu. Chuyên lòng niệm Phật chứng tỏ niềm tin mạnh, vay mượn các pháp vì niềm tin yếu. Niềm tin yếu thì khó được vãng sanh. Cứ một câu A Di Đà Phật niệm tới cùng để cầu về Tây Phương Cực Lạc thì đường vãng sanh vững vàng."
""
"(tt): Xen tạp ngay lúc lâm chung là một sự tối kỵ cho vấn đề vãng sanh."
""
"Đúng hay sai? – [✓ Đúng]. Pháp Niệm Phật tối kỵ vấn đề xen tạp. Vì thế, niệm Phật cần chuyên nhất mới tốt. Ba điểm: xen tạp, gián đoạn, hồ nghi là điều tối kỵ của Pháp Môn Niệm Phật vãng sanh Tây Phương Cực Lạc."
Trong cuốn Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm – Giảng Ký (Quyển 2), tại Tọa Đàm 072, trước câu hỏi tại Vấn Đề 34: Ngoài việc niệm Phật trợ duyên, ban hộ niệm có thể làm thêm những điều gì? (Câu 34b: Cần trì thêm các chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm; Câu 34c: Cần tụng thêm các kinh như kinh A Di Đà, kinh Địa Tạng, kinh Lương Hoàng Sám), Thầy hướng dẫn cách giải quyết khi người bệnh tha thiết muốn tụng kinh (trang 238 – 240):
"Cũng như có người hỏi rằng, hộ niệm có cần tụng kinh gì hay không? Thì chư Tổ cũng không nói đến, vậy thì xin chư vị cũng nên miễn luôn. Những điều không cần thiết thì chúng ta không nên thêm vào, nếu tự ý thêm vào, một thời gian sau Pháp Hộ Niệm sẽ trở thành một pháp gì đó rườm rà, xen tạp, mất chủ định, không còn đúng là Pháp Hộ Niệm Vãng Sanh nữa. Chính Pháp Hộ Niệm Vãng Sanh rất đơn giản, chủ đích là làm sao giúp cho người bệnh nhiếp tâm niệm A Di Đà Phật cầu vãng sanh."
"34(b): Cần trì thêm các chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm, v.v... để Pháp Hộ Niệm được mạnh hơn."
""
"34(c): Cần tụng thêm các kinh như: kinh A Di Đà, kinh Địa Tạng, kinh Lương Hoàng Sám, v.v… thì việc hộ niệm sẽ hoàn chỉnh hơn."
""
"Đúng không chư vị? – [✗ Sai]. Có thể tụng thêm các kinh khác của Phật để gieo duyên Phật pháp, tăng thêm phước cho người bệnh thì có, nhưng lại làm cho đường vãng sanh Tịnh Độ yếu hơn, chứ không phải mạnh hơn. Như vậy, nếu muốn tụng Kinh tụng Chú thì nên chờ khi hậu sự xong rồi, một tuần sau có thể thực hiện để bồi phước tiêu tội cho vong nhân thì tốt, còn trong lúc đang hộ niệm mà tụng Kinh tụng Chú xen vào thì làm cho cơ hội được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc của người bệnh bị yếu đi."
Thầy tha thiết khuyên nhắc người hộ niệm và gia quyến buông xả vạn duyên, quyết lòng giữ chặt câu Phật hiệu (trang 240 – 241):
"Một câu A Di Đà Phật nhất tâm chuyên niệm là hoàn chỉnh nhất, vững vàng nhất, thẳng tắt nhất, dễ dàng nhất để vãng sanh, chứ không phải thêm nhiều kinh điển, nhiều chú ngôn, nhiều pháp trợ lực khác là đường vãng sanh mạnh hơn đâu. Niềm tin vào Pháp Niệm Phật quá yếu, thì cơ hội vãng sanh mong manh, khó có hy vọng thực hiện. Pháp Hộ Niệm rất đơn giản mà vi diệu, sự thành tựu đã được chứng minh cụ thể, nhưng hộ niệm được vãng sanh mạnh hay yếu do chính người bệnh có thực sự tin tưởng vững vàng và làm đúng theo Pháp Hộ Niệm hay không."
"Nếu tin tưởng vững vàng, thì xin chư vị hãy mau mau nghiên cứu Pháp Hộ Niệm liền đi. Pháp Hộ Niệm chư Tổ dạy rằng, buông xả vạn duyên, quyết lòng niệm câu A Di Đà Phật cầu vãng sanh thì đủ cho chư vị vãng sanh trong một đời này. Còn không quyết lòng tin tưởng thì tùy theo nghiệp duyên của mỗi người mà tiếp tục đi luân hồi vậy."
"Hộ Niệm Vấn Đáp 07: Nghi thức càng đơn giản càng dễ Vãng Sanh"
"Hộ Niệm Vấn Đáp 13: Hộ Niệm có cần tụng kinh, đọc chú?"
"Lá Thư Số 71: Vạn Pháp Duy Tâm & Buông Xả Chấp Trước Nhà Cửa, Phân Định Nghi Thức Hộ Niệm Lâm Chung Và Pháp Môn Nhất Thừa Thật Tướng"
"Tọa Đàm 072: Ngoài Niệm Phật Ban Hộ Niệm Có Thể Làm Thêm Điều Gì? (Câu 34a, 34b, 34c)"
"Lá Thư Số 37: Tổng quát về sự Hộ Niệm! (Mục 8: Khi lâm chung có cần tụng kinh không?)"
"Tọa Đàm 176: Tông Chỉ Chuyên Nhất, Trừ Bẫy Minh Sư & Đại Kỵ Xen Tạp Lúc Lâm Chung (Câu 4pp – 4tt)"
"Tọa Đàm 155: Vì Sao Niệm Phật Bị Tẩu Hỏa Nhập Ma Và Bí Quyết Trị Tâm Hiếu Kỳ Cầu Chứng Đắc? (Vấn Đề 38a – 38d)"
"Lá Thư Số 64: Pháp môn nan tín & Bí quyết tu phước tu huệ"
"Tọa Đàm 095 & 096: Phân Biệt Chánh Hạnh Với Trợ Hạnh & Đạo Tràng Phát Nguyện Tụng Chú Đại Bi 3 Năm (Câu 2i - 2l)"
"Tọa Đàm 099: Niệm Phật Không Hồ Nghi Không Gián Đoạn Không Xen Tạp, Hóa Giải Cực Đoan Vấn Đề Uống Thuốc & Chống Tự Tử Lâm Chung"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →