Về vấn đề cách báo hiếu lớn nhất của con cái khi cha mẹ qua đời và phương pháp trọn vẹn đạo hiếu cứu độ song thân thoát khỏi sinh tử luân hồi, Thầy Thích Tịnh Hải (Cư sĩ Diệu Âm) đã phân giải vô cùng tường tận qua các bộ chánh văn (Khuyên Người Niệm Phật Tập 1 Thư 13 và 25, Tập 2 Thư 47, Tập 4 Thư 71; Giảng Ký Quyển 2 Tọa Đàm 062; Sách Trắc Nghiệm Chương 7 Câu 27).
Lời chỉ dạy chánh văn của Thầy được kết nối trọn vẹn qua các nội dung trọng tâm sau đây:
Trong bức tâm thư gửi người em (Khuyên Người Niệm Phật Tập 2, Thư 47, trang 213), Thầy Diệu Âm chỉ rõ ranh giới sâu xa giữa sự phụng dưỡng vật chất thế gian và bổn phận xuất thế gian cứu độ huệ mạng của cha mẹ:
"Một là: “Hiếu dưỡng phụ mẫu”, hiểu theo nghĩa gần gũi nhứt là hiếu thảo và phụng dưỡng cha mẹ. Điều này khó lắm chứ không phải đơn giản, đừng thấy rằng mới nuôi cơm cha mẹ vài ba bữa là đủ. Không đâu!"
""
"Hiếu thuộc về “Lý”; Dưỡng thuộc về “Sự”. Lý hiếu dưỡng là tinh thần hiếu kính; Sự hiếu dưỡng thuộc về vật chất cung dưỡng. Hiếu thuộc về xuất thế pháp, Dưỡng thuộc về thế pháp. Về xuất thế gian là con cái phải lo về huệ mạng của cha mẹ, lo về hậu báo của đời sau. Người làm con hiếu hạnh thì phải có tâm cứu độ cha mẹ thoát khỏi khổ nạn. Việc này nếu các em đã từng nghĩ qua, đã có hành động cụ thể để cứu độ cha mẹ, thì các em là người hiếu. Nếu chưa làm hoặc không chịu làm thì các em là người bất hiếu!"
Thầy tha thiết nhắc nhở đạo làm con trọn lành phải giữ gìn môi trường sống thanh tịnh, đoạn trừ ba độc tham sân si để cha mẹ không bị đọa lạc vào tam đồ ác đạo (trang 213):
"Trọn hiếu xuất thế gian là hạnh đại hiếu của con người. Đại hiếu này đầu tiên là làm sao cho cha mẹ tránh khỏi đọa lạc ba đường ác: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Muốn vậy, con cái phải giúp cho cha mẹ bỏ ba cái độc tham sân si. Tham lam bị đọa ngạ quỉ, sân giận bị đọa địa ngục, ngu si bị đọa súc sanh. Muốn thoát khỏi cảnh này, thì tổng quát, con cái cần tạo môi trường sống an lành, thanh tịnh, trang nghiêm cho cha mẹ. Nếu kình cãi nhau làm cho cha mẹ giận: Bất hiếu! Vợ chồng ly dị làm cho cha mẹ khổ: Bất hiếu! Tạo cơ duyên cho cha mẹ mang nghiệp: Bất hiếu! Năm 2002 anh về tổ chức niệm Phật, hộ niệm cho cha có người không chịu tham gia, đó chính là những người con đại bất hiếu! Con cái mà xem nồi cám heo lớn hơn huệ mạng của cha mẹ, coi tự ái của mình trọng hơn ơn nghĩa sanh thành, coi cuộc cờ tướng có giá trị hơn cảnh chết sống của người cha đang bệnh thập tử nhứt sanh."
"Đó là những hành động không tình, thiếu nghĩa, bất hiếu! Còn hàng trăm ví dụ khác, kể sao cho hết cái lỗi bất hiếu của người làm con!!!"
Đặc biệt, Thầy khẳng định việc niệm Phật, hộ niệm đưa song thân vãng sanh Tây Phương chính là đỉnh cao tột cùng của hiếu hạnh (trang 214):
"Giúp cha mẹ thoát khỏi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh là đại hiếu, còn cứu độ cha mẹ vãng sanh Tây Phương Cực Lạc là đại hiếu của đại hiếu. Muốn làm được việc này, con cái phải thường xuyên tổ chức niệm Phật cho cha mẹ, tập sự hộ niệm khi lâm chung, giảng giải đạo giải thoát cho cha mẹ hiểu. Hiện tại, nếu mình chưa đủ khả năng thuyết giảng, thì băng pháp, thư của anh, video, cassette, v.v... có thể giúp cho các em hoàn thành việc này. Dễ dàng như vậy thôi, nhưng liệu các em có làm được chưa? Có vận động anh chị em cùng nhau trả hiếu chưa? Nếu có, là đại hiếu; nếu không, là đại bất hiếu. Nếu còn coi con heo nái trong chuồng lớn hơn sự sống chết của cha mẹ, còn chạy theo cái lợi lộc vô thường giả tạm của thế gian mà không chịu gấp rút chuẩn bị đến chuyện: một vài tháng nữa, một vài tuần nữa, có thể cha mẹ mình ra đi, ta vĩnh viễn mất người cha, vĩnh viễn mất người mẹ..."
"thì quả thực chúng ta là những con người đại bất hiếu, đại bất nghĩa! Đã vướng vào tội đại bất hiếu thì còn nói chi đến nhân nghĩa, tu hành cho thêm tội vậy!"
Thầy sách tấn con cái phải hành động cụ thể ngay khi cha mẹ còn tại thế (trang 214):
"Lo tròn đại hiếu này là chuẩn bị cứu độ vãng sanh, phải làm liền, không thể đợi. Làm liền những gì? Phải niệm Phật chung với cha mẹ, phải ngày ngày tự niệm Phật mà đem công đức hồi hướng cho cha mẹ, phải thành tâm cầu nguyện Phật, Bồ Tát gia trì cho song thân. Phải làm cụ thể mới gọi là người tu hành. Hiếu thảo với cha mẹ không có mức để trả lương! Không công thì của, không của thì tâm hạnh phải kính thương, bảo vệ... chứ cứ nói khơi khơi thì có ích gì, trong khi chính mình không dám chịu lỗ một đồng cắc để cứu cha, không dám chịu mất một chút mồ hôi để cứu mẹ, mặc xác cho người sanh thành tương lai rơi vào đường nào thì rơi, còn mình thì ngày đêm lo kiếm tiền để chờ ngày làm ngạ quỉ, lo tranh tụng hơn thua để giành phần xuống địa ngục, lo nhậu nhẹt để thành loài bàng sanh trong tương lai, v.v..."
"Nên nhớ, nếu hiểu đạo lý thì công đức cứu độ song thân lớn vô lượng, cái thua lỗ trước mắt này chính là phước báu vô tận trong tương lai, quí giá vô biên cho chính mình sau này đó."
Khi phân tích về tâm thế của người thân lúc lâm chung (Khuyên Người Niệm Phật Tập 1, Thư 25, trang 212), Thầy Diệu Âm chỉ rõ tình thương thiếu chánh kiến sẽ vô tình đẩy người mất vào biển khổ:
"Vì sao người không biết đạo thì tất cả người thân kẻ sơ, người thương kẻ ghét, con cháu trong gia đình... đều sẽ trở thành oan gia trái chủ? Vì họ đang sống để chờ một ngày nào đó, khi mình lâm chung, sẽ nhận mình vào tam đồ ác đạo, nhất là người thân yêu. Cái nguyên nhân chính là vì không hiểu đạo, không biết cách cứu độ, chỉ biết những hành động đày đọa người mình thương. Ví dụ, lúc người thân đang lâm chung thì kêu réo, khóc than, níu kéo, gây đau đớn, không nỡ để người thân an lành ra đi... Họ có giữ được chăng? Nhưng kết quả của những hành động này chỉ là đem “Oan hồn” người thân yêu của mình ném vào cảnh giới khổ hải mà không hay! Thê thảm thay, càng thương yêu thì càng khóc lớn, càng quý mến thì càng kéo níu mạnh, càng thân thiết thì càng gây đau đớn nhiều!... Một ngàn người trên thế gian, có lẽ có tới chín trăm chín mươi chín người lúc lâm chung bị cái tai họa này."
"Có nơi, người thân mới tắt hơi, thần thức đang chới với chưa biết nghĩ sao, thì đã chịu cái nạn bị liệng vào nhà xác, bị bác sĩ mổ banh ruột ra để khám nghiệm, bị cột chân cột tay cho dễ tẩm liệm..."
Hậu quả của sự đau đớn và hoảng loạn đó là chiêu cảm thẳng vào ác đạo (trang 213):
"Kết quả của hành động phũ phàng này làm cho người ra đi quá buồn tủi, hoặc bị hành xác quá đau đớn làm cho tâm nổi sân giận đến cực độ, kết quả là thần thức bị chiêu cảm thẳng vào địa ngục. Thế gian này đã có biết bao nhiêu trường hợp đau thương như vậy! Còn biết bao nhiêu hình thức khác nữa để làm cho người thân yêu bị khổ đau. Chúng sanh trên thế gian này từ trước tới giờ vô lượng vô biên, kiểm lại có được mấy ai thoát khỏi bàn tay đày dọa của người thân yêu? Vậy thì thử hỏi, nếu không học Phật, có người thân nào mà không trở thành oan gia trái chủ của người thân đâu?!..."
Thầy chỉ dạy con cái biết tu hành phải chuyển hóa tình thương phàm phu thành tâm Bồ Tát hộ pháp bảo vệ cha mẹ vãng sanh (trang 213):
"Còn người tu hành, thì biến “oan gia, trái chủ” thành Bồ Tát hộ pháp. Vì người hiểu được Phật đạo, biết niệm Phật, thì biết định luật nhân quả, hiểu rõ sanh tử luân hồi, nhờ vậy mà biết làm lành lánh dữ, biết bố thí giúp người, biết khuyên người tu hành, biết chọn đường “Tịnh nghiệp” để đi, biết chuẩn bị ngày vãng sanh. Họ khuyên người thân niệm Phật, họ dạy con cháu hộ niệm, họ khuyến khích bà con, làng xóm tu hành... thì đâu còn oan gia, trái chủ nữa. Nói chung, họ biết tu cái nhân tốt, thì quả báo chắc chắn sẽ tốt. Người ác lánh xa, người hiền tụ về, người thân hiểu đạo, tất cả đều trở thành một đội ngũ bảo dưỡng họ lúc sống được an lạc, bảo vệ lúc lâm chung được an toàn vãng sanh, chung quanh đều là những người có tâm Bồ Tát hộ pháp."
Lý giải rõ hơn về cảm thọ của người mới qua đời (Khuyên Người Niệm Phật Tập 1, Thư 13, trang 98), Thầy Diệu Âm giải thích trạng thái thần thức sau khi trút hơi thở cuối cùng:
"Còn những đường khác như tái sanh làm người, lạc vào đường Ngạ Quỷ, Súc sanh, đường A Tu La (Quỷ Thần) thì con người có thể trải qua một thời gian cách ấm bốn mươi chín ngày rất căng thẳng. Trước khi rơi vào khoảng thời gian cách ấm, thân thể con người vẫn còn cảm xúc tới tám giờ sau khi trút hơi thở cuối cùng. Như vậy rõ ràng một người khi ngưng hơi thở không phải là hết, mà họ vẫn cảm thọ được sự nóng lạnh, đau đớn, âm thanh, cảnh sinh hoạt chung quanh có thể tới tám tiếng đồng hồ mới hoàn toàn chấm dứt. Trong ba giờ đầu họ cảm nhận rất rõ."
Vì vậy, mọi sự quấy nhiễu hay vội vàng chuyển xuống nhà xác lúc này đều khiến người ra đi đau đớn khôn cùng (trang 99):
"Cho nên, người hộ niệm phải hiểu rõ việc này, nếu mới thấy người vừa tắt hơi nhào vô níu kéo, lay động thân thể, khóc kể, la hét, gây lộn xộn chung quanh... sẽ ảnh hưởng rất lớn vào thần thức người ra đi. Xin nhắc lại, giây phút trước và sau khi tắt thở là giai đoạn vô cùng căng thẳng. Người ra đi đang đối đầu với những trạng huống rất lạ và kinh khủng nào là oan gia, trái chủ, thù oán nhiều đời nhiều kiếp nhào vô giựt phần đòi nợ, nào là những cảnh giới vừa thiện vừa ác hiện ra. Là lúc cả một cuộn phim từ nhiều đời nhiều kiếp đang quay lại làm điên đầu người ra đi. (Trong kinh Phật giáo Mật Tông nói rất rõ chuyện này). Trong trạng thái đó nếu thân nhân hiểu Phật pháp một chút, họ có thể xoay trở tình thế, cứu được người thân thoát khỏi nơi hiểm ác, sanh vào cảnh giới tốt bằng cách một lòng thành tâm niệm Phật phụ trợ người đi."
"Xui xẻo cho ai không tu hành, không có người hiểu đạo lo liệu, vừa mới ngưng hơi thở chưa kịp nghỉ ngơi thì bị liệng vào nhà xác, bị bác sĩ mổ bung bụng ra khám nghiệm, bị con cháu khóc lóc, kể lể, níu kéo... những hành động này sẽ làm cho người ra đi đau đớn không chịu nổi, bấn loạn đến cùng cực! Nhứt là thời khoảng ngay phút lâm chung và sau vài giờ khi tắt hơi, nếu bị tác động mạnh thì chắc chắn không thể nào được sanh nơi cảnh giới tốt, nếu không nói là bị đoạ vào tam ác đạo tức thì. Chính vì thế, mà phải để yên thân thể, nhẹ nhàng đắp mền cho ấm và thanh tịnh tiếp tục niệm Phật suốt càng lâu càng tốt, tới tám tiếng đồng hồ mới chắc được an toàn là vậy."
Trong Tọa Đàm 062 (Giảng Ký Quyển 2, trang 139), Thầy Diệu Âm giải thích quy luật không đụng chạm thi thể ít nhất 8 tiếng:
"28(l): Nhắc nhở gia đình không được đụng chạm vào thân xác từ lúc tắt hơi cho đến ít nhất là 8 giờ."
""
"Đúng không chư vị? – [✓ Đúng]. Không biết hộ niệm thì ai có thể biết được chuyện này. Chư vị cứ nghĩ lại đi, có phải đúng như vậy không? Diệu Âm này đến 50 tuổi mới biết được Pháp Hộ Niệm, từ đó mới giựt mình nghĩ lại những hành động của người sống thường dành cho người chết mà rúng động tâm can. Từ trong làng cho đến ngoài xã, từ thôn quê cho đến thành thị, từ người già cho đến trẻ em, từ kẻ nghèo khó cho đến người giàu sang... khi vừa chết xong hình như ai cũng bị cái nạn tắm rửa, kỳ cọ, thay áo thay quần, cột tay cột chân, bị giải phẫu banh thây mổ ruột, bị đưa vào phòng lạnh, v.v... và v.v..."
Thầy nêu bật nỗi thống khổ tột cùng của người mất khi bị tác động thân xác trong giai đoạn này (trang 140):
"Người thế gian không biết Phật Pháp làm điều sai lầm là chuyện bình thường, nhưng người biết đạo như chúng ta, đã được cảnh cáo, mà sơ ý tiếp tục làm điều sai lầm nữa, thì quá oan uổng, quá đáng trách vậy! Một người vừa mới tắt hơi xong mà đụng chạm vào thân xác của họ khiến họ bị đau đớn chẳng khác gì như một sự hành tội, tra tấn. Bị tra tấn hay hành tội lúc còn khỏe thì người ta còn có thể chạy tránh hay lên tiếng van xin, chứ tra tấn lúc đã tắt hơi thì họ chỉ nằm mà chịu trận. Chính vì quá đau đớn, quá bức xúc nên người chết khởi tâm căm thù, tức giận, trạng thái này thường khiến cho thần thức của họ dễ dàng chiêu cảm thẳng vào địa ngục, vô cùng bi thảm mà nhiều người không hay."
Thầy chỉ dạy thêm về thời gian an toàn theo chư Tổ và cách xử lý khi gặp trường hợp bất đắc dĩ (trang 140):
"Hiểu được đạo lý này, kính mong chư vị hết sức quan tâm, đừng đụng chạm vào thân xác của người chết quá sớm mà tội nghiệp cho họ. Có những trường hợp quá đặc biệt, vạn bất đắc dĩ chúng ta đành phải đụng chạm để giải quyết sự khó khăn. Ví dụ như: tai nạn chết giữa đường, đột quị chết trong nhà vệ sinh, chết giữa ngạch cửa, thân gác nửa trên nửa dưới, v.v... Đây là những trường hợp quá đặc biệt cần phải chuyển thân xác họ đến chỗ an toàn, chứ không có cách nào khác hơn. Trước khi di chuyển, cần phải lên tiếng báo cho họ biết, rồi vừa niệm Phật vừa nhẹ nhàng bồng thân xác họ đưa lên giường, đắp mền rồi khai thị, niệm Phật hộ niệm liền, không được chậm trễ. Cho nên, hộ niệm có qui luật cấm đụng chạm vào thân xác của người ra đi từ lúc tắt hơi cho đến ít nhất là 8 giờ là chính xác. Xin chú ý thực hiện, chớ nên nghi ngờ."
"Xin thưa với chư vị, trong kinh Phật cũng như chư Tổ đều khuyến cáo đừng nên bất cẩn đụng chạm thân xác người ra đi quá sớm, và thời gian cần thiết phải giữ an toàn có hướng tăng dần lên. Ví dụ từ thời Ấn Tổ, có lần Ngài khuyên ít ra cũng phải sau 4 giờ mới được quyền nhẹ nhàng thăm. (4 giờ này là chỉ cho 4 thời khắc của giờ Đông Phương xưa kia, một ngày có 12 thời khắc, mỗi thời bằng 2 tiếng đồng hồ, 4 thời khắc tức là 8 giờ đồng hồ vậy). Đến thời ngài Lý Bỉnh Nam, cũng khuyên nên chờ đến 8 tiếng đồng hồ. Đến thời HT Tịnh Không, Ngài khuyên nên để 12 tiếng đồng hồ mới thăm nhằm được an toàn hơn."
Trong bức thư gửi các bạn đồng tu (Khuyên Người Niệm Phật Tập 4, Thư 71, trang 85), Thầy Diệu Âm chỉ rõ những sai lầm phổ biến khiến người niệm Phật lâm chung bị chướng ngại:
"Cần chú ý rằng, người niệm Phật mà cuối đời bị thất bại, hầu hết đều do con cái phá hoại. Vì không tin Phật pháp nên chúng chống phá niệm Phật, ngăn cản việc hộ niệm. Vì không thấu hiểu chánh pháp nên chúng thường có những việc làm điên đảo như giết hại sanh vật để cúng tế thần linh cầu tiêu tai giải nạn, bộc lộ những tình cảm yếu mềm như khóc than kêu réo thảm thiết lúc cha mẹ ra đi, không kềm chế nổi những hành động dại khờ như níu kéo dằn xóc thân thể người lúc lâm chung... Người đời không biết, nhưng thực tế đây chính là mối đại họa, đã vô ý đày đọa người thân của mình vào tam ác đạo vạn kiếp mà không ai ngờ tới!"
Thầy tha thiết căn dặn con cái phải quyết tâm lo việc vãng sanh cho cha mẹ, tránh xa cái nạn nhà xác phũ phàng (trang 85):
"Dặn chúng nó rằng, một khi bác sĩ đã bó tay thì dứt khoát phải sớm xuất viện đưa ta về nhà để lo hộ niệm, chứ đừng chần chừ mà ta bị nạn liệng vào nhà xác một cách phũ phàng. Dặn dò đừng khóc than, đừng buồn phiền, đừng ôm ấp lay động xác thân trong suốt thời gian ít nhất là 8 tiếng đồng hồ để hộ niệm, rồi sau đó muốn coi ngày coi giờ, bói toán gì đó... tùy ý. Có như vậy thì việc vãng sanh của ta mới chắc chắn, số phần của ta mới đại phước, đại lành."
Khi giải đáp các tập tục sai lầm trong tang sự ở Sách Trắc Nghiệm (Chương 7, Câu 27, trang 149), trước câu hỏi tổng: "Vấn đề dị đoan mê tín – Tập tục sai lầm:", Thầy Diệu Âm xác định rõ những việc làm mê lầm làm tổn hại người mất và chánh đạo chân thật:
"e) Thế gian có nhiều tập tục sai lầm, người tu hành chánh pháp của Phật không được làm theo. [✓ Đúng]"
""
"i) Tu hành niệm Phật cầu vãng sanh mới có thể được siêu sanh, còn chuyện coi ngày giờ chỉ là tập tục của thế gian. [✓ Đúng]"
""
"j) Cha mẹ chết con cháu phải giết súc vật thết đãi thì vừa trả được chữ hiếu vừa trả trọn chuyện nhơn nghĩa thế gian. [✗ Sai]"
""
"k) Người giết hại sinh vật mang tội sát sanh, còn làm cho người chết nghiệp càng thêm nặng. [✓ Đúng]"
Để khép lại, người con hiếu thuận hãy khắc ghi lời khai thị chí tình của Thầy Diệu Âm trong bức tâm thư (Khuyên Người Niệm Phật Tập 4, Thư 71, trang 86), buông xả mọi chấp trước giả tạm để nhất tâm cầu sanh Cực Lạc thành tựu quả Phật vô thượng:
"Thế mới biết, còn nhiều điều rất quan trọng cần phải dặn dò mà không chịu dặn, lại nhắc nhở làm chi đến cái quan tài chứa cái xác chết sắp thối rã dưới mồ hoang. Tập tục thế gian thường hay bói toán, chọn ngày giờ tốt để nhập quan, chôn cất. Đây chẳng qua là tìm chút phước báu. Có phước nào lớn hơn cái phước được vãng sanh thành Phật? Một vị đại Bồ Tát ở cõi Tây Phương chẳng lẽ còn cần đến chúng phàm dân cầu phước cho sao? Khi vãng sanh rồi thân tướng của ta là kim cang bất hoại, màu sắc óng ánh như vàng nấu chảy, trang nghiêm tốt đẹp như Phật, chứ đâu phải rã rời thối nát như cái xác chết đó đâu. Cho nên, hiểu đạo rồi, người niệm Phật đừng chấp chi những thứ vô thường huyễn hóa nữa, cứ để mặc cho con cháu nó lo. Lo tươm tất thì chúng có hiếu, được phước, làm lượm thượm thì cũng đâu can hệ gì đến một vị Bồ Tát ở cõi Tây Phương. Hãy thành đạo trước về cứu độ chúng sau."
"Phải quyết lòng buông xả, quyết một đường đi, quyết một hướng cầu vãng sanh Cực Lạc. Đừng sơ ý, lỡ kẹt rồi thì đành phải ôm lấy nắm xương tàn ngàn năm khổ lụy!"
"Lá Thư Số 47: Lời khuyên người em — Quyết tâm cứu độ chúng sanh!"
"Lá Thư Số 25: Lời khuyên song thân"
"Lá Thư Số 13: Lời khuyên song thân"
"Tọa Đàm 062: Đối Với Gia Đình, Người Hộ Niệm Nên Làm Gì? (Câu 28l)"
"Lá Thư Số 71: Vạn Pháp Duy Tâm & Buông Xả Chấp Trước Nhà Cửa, Phân Định Nghi Thức Hộ Niệm Lâm Chung Và Pháp Môn Nhất Thừa Thật Tướng"
"Chương 7: Sơ Suất Khi Hộ Niệm — Câu 27"
Quý đồng tu có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tra cứu tại đây.
Đặt câu hỏi với Trợ Lý →